Phap Tu Bi Hy Xa Binh Dang Vi Tha Bac Ai
---------------------
Trước cửa Đạo dựng rào Tâm Thức
Bước ngàn lần vẫn bước không qua
Bởi ngôn từ dựng lập hôm qua
Là quá khứ Pháp Trần hư ảo
Trước cửa Đạo phá rào Tâm Thức
Chuyện Tử Sanh một bước tự lìa
Tan Vọng niệm thấy trời Tự Tánh
Đạo hiển bày Pháp giới Toàn Tri
HNL
---------------------
Bình đẳng ba thời
Ngã Huyễn Không
Chơn thật nghĩa xứ
Pháp thời Không
Như Như thật tướng
Tâm an vị
Vô biên Tâm Từ
Trùm Hư Không
HNL
---------------------
Thân bệnh
Tâm bệnh
Và nghiệp bệnh.
Bệnh về thân hẳn phải có sinh lão bệnh tử,
đó là tuần hoàn không thể tránh.
Nhưng tâm bệnh gặp Pháp nhiệm mầu, hiểu
nhân quả, báo ứng thì tâm thông ý viên. Bệnh về tâm chẳng còn.
Nghiệp bệnh cũng thế, chẳng kết thù với hết
thảy chúng sanh trong đời này và luôn sám hối, tu thập thiện nghiệp, niệm Phật,
trì Kinh Địa Tạng, phát Tâm Chay Trường cho đến giữ gìn giới luật và hồi hướng
công đức cho oan gia trái chủ, và nguyện vãng sanh cực lạc độ hết thảy hữu tình
chúng sanh thì thân nghiệp đời này như chết yểu, ung thư, tai nạn... Chẳng thể
nào sảy ra. Nếu có sảy ra đi chăng nữa thì cũng là " cộng nghiệp" tức
trả nợ ngay trong một đời này để ăn vui về sau.
Xin thường niệm Nam Mô A Di Đà Phật
------------------------
ĐỜI NGƯỜI VỐN VÔ THƯỜNG
Muốn hay không thì cuộc đời vẫn vậy
Cứ xuôi dần theo dòng chảy thời gian
Người cơ hàn hay là kẻ giàu sang
Khi chết đi vẫn hai bàn tay trắng
Được ấm no đã là điều may mắn
Hãy giữ gìn đời bình lặng sóng yên
Có những điều để tạo hoá tự nhiên
Đừng gượng ép kẻo muộn phiền vây lấy
Đáng hay không vì xa hoa bóng bẩy
Rồi tự mình xô đẩy dưới vực sâu
Nếu như tâm chẳng muốn vướng ưu sầu
Thì chớ nên cưỡng cầu trong mê muội
Biết ăn năn và nhận ra lầm lỗi
Nhớ dặn lòng phải sửa đổi bản thân
Dẫu vật chất thì ai sống cũng cần
Nhưng đừng để chữ tình thân rạn nứt
Chuyện tử sanh mãi luôn là định luật
Đời vô thường sự thật chẳng thể thay
Là con người thì ai cũng như ai
Đến cuối cùng cũng phải về cát bụi.
st:
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
------------------------
SÁM HỐI NĂM TỘI
Trước Phật đài con xin sám hối
Xét lại mình tội lỗi từ xưa
Hoặc là nhiều kiếp dây dưa
Chập chùng nghiệp quấy có thừa núi cao.
Thân con đựng chứa biết bao tật xấu
Bước chân đi theo dấu đường đời
Cách ăn thói ở tùy thời
Nào con có tránh khỏi nơi tội tình
Tội thứ nhất: Sát sinh thực nhục
Thuở bé thơ đến lúc trưởng thành
Vì con cha mẹ cam đành
Giết loài muôn thú nuôi thân mạng này.
Con cũng có tự gây lấy nghiệp
Cùng bao nhiêu người gián tiếp trợ duyên
Thức ăn bán ở thị thiềng
Sát sinh tội bởi đồng tiền trao tay.
Thân con lỡ tạo vay nghiệp ác
Muôn vạn loài oan thác vì con
Ví như thây ướp hằng còn
Từ xưa chất để như hòn núi cao.
Tính một kiếp dồn bao nhiêu kiếp
Thân con đây tội nghiệp dẫy đầy
Xét ra thì thịt xương này
Lại là xương thịt muôn thây tạo thành
Cũng có lúc lòng lành bất nhẫn
Nghe tiếng kêu hối hận giật mình
Máu me tràn ràn rụa thân hình
Mắt trong thảm cảnh động tình xót xa.
Con nguyện hứa thứ tha tất cả
Lòng dặn lòng cải hóa tự tâm
Học đòi theo bậc triết nhân
Tạm dùng hoa trái nuôi thân qua ngày.
Nhưng trong cõi trần ai bụi bặm
Giữ làm sao khỏi lắm tấc son
Biết bao nghiệp sát cỏn con
Nhiều lần vô ý dập dồn tội khiên.
Nay đến trước Phật tiền sám hối
Lượng từ bi xả tội lỗi lầm
Ăn năn gội rửa lòng phàm
Con nguyện sửa đổi việc làm từ nay
Tội thứ hai: Tham tài trộm đạo
Thói vậy tà gian xảo xấu xa
Hoặc từ nhiều kiếp trải qua
Hoặc từ thơ bé tạo ra tội tình
Nhìn lại tấm thân hình trưởng đại
Hẳn có khi tội trái lôi thôi
Của người nhọc đổ mồ hôi
Dùng mưu chước lấy đắp bồi thân ta.
Tội thứ ba: Dâm tà loạn phép
Lỗi đạo hằng mang nghiệp vào thân
Tấm lòng yễm cựu nghinh tân
Làm sao tránh khỏi xoay vần trái oan.
Đường tình ái đã chan chan tội
Nẻo dâm tà càng lỗi nặng lung
Tấm thân tội lỗi thẹn thùng
Kiếp này, kiếp khác chập chùng bằng non.
Tội thứ tư: Vọng ngôn dối trá
Lợi cho mình thiên hạ hại thân
Vẽ duyên thêu dệt xa gần
Muôn điều rối rắm, trăm phần đảo điên!
Thói lưỡng thiệt hai bên đâm thọc
Cho đôi đàng trách móc lẫn nhau
Mở lời để lại về sau
Một câu thất đức họa sâu không ngừa.
Tội thứ năm: Say sưa chè rượu
Lỗi giới điều do tửu nhập tâm
Thêm lòng ham muốn tham lam
Càng thêm chất chứa càng làm mê say.
Bệnh sân hận con nào chịu sửa
Nổi nóng lên như lửa cháy rừng
Mê si đâu biết tỏ tường
Cõi mơ muôn vạn nẻo đường nhá nhem.
Năm giới chánh cộng thêm giới phụ
Tam nghiệp chung tính đủ thập điều
Phật ban giới cấm đã nhiều
Mà con lỗi phép không theo luật Ngài.
Hoặc vô ý không hay tội trượng
Hoặc yếu hèn chẳng cưỡng được tâm
Tự làm hoặc xúi người làm
Hoặc nghe thấy ác lòng phàm đua vui.
Từ vô thỉ tạo rồi nghiệp chướng
Đến những nay vô lượng kiếp sinh
Mỗi phen mang lấy thân hình
Tạo gây lắm thứ tội tình nghiệp duyên
Nay lòng thành con nguyền sám hối
Xét tội xưa tránh lỗi về sau
Cầu xin nước tịnh rước vào
Tâm con được sạch làu làu hôm nay.
Con cố gắng từ đây sắp tới
Giữ đúng theo ngũ giới Phật truyền
Cần trau tam nghiệp trọn hiền
Pháp tu Thanh tịnh vẹn tuyền mới cam.
Mong đến chốn già lam Phật cảnh
Giã cõi đời ảo ảnh phù du
Con về con học phép tu
Làm dân đất Phật thiên thu sống còn
Đường giải thoát lòng con chí dốc
Quyết phăng tìm theo gốc tu chơn
Nương về Tam Bảo là hơn
Con nguyện chẳng dám khinh lờn dể ngươi.
Được thưởng thức chút mùi vị đạo
Xin nhớ ơn Tam Bảo ghi lòng
Con nay sám hối vừa xong
Nghiệp trần con phủi đã xong sạch rồi.
Con cầu nguyện người đời tỉnh thức
Nhận đạo Thiền hết sức bình an
Cầu xin Phật hiện thế gian
Cầu xin Tam Bảo giúp an muôn loài.
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát
------------------------
5 NGUYÊN TẮC TRÁNH KHẨU NGHIỆP
- Chuyện không rõ, đừng nên nói
- Chuyện không có, đừng đơm đặt
- Chuyện không chắc, đừng nói linh tinh
- Chuyện tổn thương, tuyệt đối không bàn
tán
- Chuyện người khác, đừng phán đoán lung
tung.
Xin thường niêm Nam Mô A Di Đà Phật.
------------------------
Bần Sĩ Khuyến Tu
Đề tài :
TỈNH THỨC CHƠN TÂM
Chức tước bảng bia tại THẾ TRẦN
Sao bằng cực lạc cõi TÂY PHƯƠNG
Ăn trong ý tưởng khỏi nung nấu
Du ngoạn THẬP PHƯƠNG thật dễ dàng
Của cãi THẾ GIAN gìn khó đặng
Luân hồi lục đạo khổ tấm thân
Khuyên trong trần thế mau TỈNH THỨC
Bất chịu giác tâm uổng kiếp người
Cuộc đời giả tạm không bền vững
Tuổi mới xuân xanh thoáng bạc đầu
Vạn vật vô thường luôn bất chợt
Sắc hình hủy hoại chẳng bền lâu.!
Tỉnh tâm tầm đạo đừng say đắm
Chí dốc ngày đêm niệm thực hành
Khuyên tất khách trần mau tỉnh ngộ
Tu hành thấu đạt lý cao sâu
Khuyến người giữ dạ ráng ân cần
Giới luật tự rèn sinh tánh linh
Bền chí gắng tu cho trót kiếp
Sau về lạc quốc thọ dài lâu.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
------------------------
CÓ NGƯỜI TRAI LÀNH GÁI TÍN, MỘT ĐỜI TRAI
GIỚI, GIEO TRỒNG CÁC CĂN LÀNH, ĐẾN GIÀ SA NGÃ BỎ ĂN CHAY PHẠM GIỚI CẤM, SAU BỊ
QUẢ BÁO CHI?
Thế Tôn nói: Những chúng sanh như vậy tuy
có căn lành mà không có nguyện lực lớn, không có chánh tri kiến, xa lìa thầy
bạn, quên hết các công lao khi trước tu hành, trở lại bị lục tặc lôi kéo, cướp
đoạt công đức của mình, tâm sanh điên đão không thành Phật đạo.
Trong đó hoặc có người phạm về việc ăn thịt
thời phải đọa lạc về thần đạo, như bực trên thì làm quỷ vương, bực giữa thì làm
dọa xa, bực dưới thì làm la sát, chịu hưởng của người cúng tế. Đến chừng phước
khí tiêu hết, theo nghiệp luân hồi trả quả, hễ mất thân người muôn kiếp khó trở
lại đặng.
Trong đó hoặc có người phạm dâm dục thời
làm ma đạo, bực trên thời làm ma vương, bực giữa thời làm ma dân, bực dưới thời
làm ma nữ. Đến chừng phước khí tiêu hết, theo nghiệp luân hồi trả quả, hễ mất
thân người muôn kiếp khó trở lại đặng.
Trong đó hoặc có người phạm tội uống rượu,
thời đọa lạc về quỷ đạo, bực trên làm hữu tài quỷ, bực giữa thời làm phong
nguyệt quỷ, bực dưới thời làm tiêu tán quỷ. Đến chừng phước khí tiêu hết, theo
nghiệp luân hồi trả quả, hễ mất thân người muôn kiếp khó trở lại đặng.
Hoặc phạm tội trộm cắp, phải đọa lạc tà
đạo, bực trên thời làm tinh linh, bực giữa thời làm yêu quái, bực dưới thì làm
người ta. Phước khí tiêu hết, theo nghiệp luân hồi trả quả, hễ mất thân người
muôn kiếp khó trở lại đặng.
Hoặc phạm tội vọng ngữ, chưa đặng nói là
đặng, chưa chứng nói là chứng, cái lòng tự cao nên phải đọa làm loài yêu, bực
trên thời làm ly mị, bực giữa thời làm vọng lượng, bực dưới thời dựa gá cỏ cây.
Phước khí tiêu hết, theo nghiệp luân hồi trả quả, hễ mất thân người muôn kiếp
khó trở lại đặng.
Lại có người hay oán giận, tuy có phước đức
cũng đọa Tu la ác đạo, bực trên là A tu la vương, bực giữa là A tu la chúng,
bực dưới là A tu la nữ, thường ham tranh đấu, chịu những lao khổ mãi mãi. Phước
khí tiêu hết, theo nghiệp luân hồi trả quả, hễ mất thân người muôn kiếp khó trở
lại đặng.
-TRÍCH: ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
------------------------
..* Một kiếp nhân sinh giữa cõi đời..Sinh
lão bệnh tử lắm sầu bi..Quyền cao phú quý như gió thoảng..Hạnh phúc niềm đau
cũng lắm khi..Hôm nay còn đó ngày mai mất..Thì thân xác kia có nghĩa gì..Vô thường
không hẹn chờ ai trước..Khi dứt nghiệp trần phải ra đi .*..Nam mô bổn sư thích
ca mâu ni Phật..Nam mô a di đà Phật..Nam mô đại bi hội thượng Phật Bồ Tát Ma Ha
Tát
Từ nay mãi đến ngàn sau
Sống vì tất cả, chẳng cầu riêng tư.
Hiểu rằng ba cõi ngục tù,
Thân là cát bụi, tâm là bóng mây.
Từ lâu như kẻ ngủ say,
Si mê chấp ngã chưa ngày thoát ra.
-------------
..Hãy quên đi những gì trong quá khứ..Sống
ở đời nên tha thứ cho nhau..Đừng nhìn lại những nỗi đau tâm khảm..Cuộc đời này
ai bảo đảm đúng sai..Đừng oán hận cho đêm ngày thức trắng..Khổ cho đời mãi lo
lắng không nguôi..Oán hận kia hãy chôn vùi mãi mãi ..Để cuộc đời sống mãi với
niềm vui..*. Sống là san sẻ yêu thương..Sống đừng làm chuyện bất lương hại
Người..Sống là vun đắp cho đời..Sống đừng ganh ghét nói lời thị phi.*..Nam mô
bổn sư thích ca mâu ni Phật..Nam mô a di đà Phật..Nam mô đại bi hội thượng Phật
Bồ Tát
-------------
Mình nhìn thì mình sợ.
Nhưng Đức Phật thương chúng lắm. Chưa cần
kính hiển vi soi vào, Phật nhìn vào đã thấy và biết rõ chúng là ai, giọt nước
này từ đâu tới...v..v... Đức Phật biết tất cả.
Đức Phật đã đưa ra một số giới luật để bảo
vệ các sinh vật bé nhỏ này mà vẫn an toàn với các đệ tử của Người.
Đức Phật tuyên bố trong nước có rất nhiều
chúng sinh, và các Tỳ kheo phải lọc nước khi tắm giặt và ăn uống. Nước đang
nóng không đổ xuống mặt đất vì sẽ làm tổn thương đến chúng sinh nhỏ bé dưới mặt
đất.
Mọi người thấy Đức Phật như thế nào? Trí
tuệ và từ bi tuyệt đối phải không ạ!
-------------
PHƯƠNG PHÁP TIÊU TRỪ NGHIỆP
CHƯỚNG:
Nghĩ muốn tiêu trừ nghiệp chướng
phải cần nội công và ngoại công song hành, hạnh chánh (chánh
hạnh) và hạnh phụ (trợ hạnh) gồm tu.
Nội công là hạnh chánh, đó là
niệm Phật, lễ Phật (lạy Phật). Niệm Phật trong sinh hoạt phải
luôn nhớ thầm niệm một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật
(hoặc A Di Đà Phật). Dùng nhất niệm vạn đức hồng danh chí tôn
vô thượng để trung hòa tất cả vọng niệm và thói xấu tham,
sân, si từ vô thỉ kiếp đến nay. Những nghiệp chướng nặng nề
này sẽ dung hòa vào một câu thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, và
được đức Phật A Di Đà đại từ đại bi và tất cả chư Phật trong
mười phương hộ niệm, che chở và bao bọc, giúp tiêu trừ
nghiệp chướng của chính mình. Lạy Phật chính là kính lễ chư
Phật để sám hối nghiệp chướng của chúng ta. Mỗi ngày lễ 88
vị Phật hoặc chuyên lạy Phật A Di Đà để sám hối. Trong quá
trình lễ lạy, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh nương vào sức
bổn thệ nguyện của chư Phật, dùng sức mạnh sám hối để diệt
trừ tội lỗi và tiêu trừ nghiệp chướng.
Ngoại công là hạnh phụ có thể giúp
thành tựu đạo nghiệp của chúng ta. Ngoại công chính là ăn chay và
phóng sanh. Chúng ta trong sinh hoạt hằng ngày không nên làm điều
ác, nhớ phải tu nghiệp lành (làm việc thiện). Việc cực ác
chính là ăn thịt và giết hại. Vì thế, muốn dứt điều ác
trước hết phải ăn chay. Việc thiện lớn nhất là chuộc mạng
phóng sanh. Vì thế, muốn tu điều thiện, trước phải lo chuộc
mạng phóng sanh. Ăn chay và phóng sanh là hai bài tập quan trọng
nhất của người tu Phật.
Nếu như có thể nội công và ngoại
công cùng tu, thì dùng nội công niệm Phật, lạy Phật làm chính;
lấy hạnh ăn chay và phóng sanh làm phụ. Cần phải hết lòng chí
kính nỗ lực tinh tấn thì sẽ thành tựu nhanh chóng.
[LIÊN TRÌ CẢNH SÁCH]
-------------
Cuộc sống vốn dĩ không dễ dàng. Mỗi nhà mỗi
cảnh, mỗi người mỗi nỗi khổ tâm riêng. Đừng trách người không giúp đỡ mình,
cũng đừng giận người không quan tâm mình. Sống trên đời này, ai cũng phải tự
thân vận động, vui buồn sướng khổ đều phải tự mình cảm nhận.
Không ai có thể thực sự hiểu được con, vì
đơn giản tảng đá không rơi xuống bản thân họ, làm sao họ cảm nhận được gánh
nặng đè lên vai con mệt mỏi ra sao, đau đớn thế nào. Trên đường đời, chúng ta
mãi mãi vẫn phải một mình bước tiếp.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
-------------
Chìa khóa để có được nội tâm bình ổn
chính là không bị lệ thuộc bởi những gì đang diễn ra xung quanh,
hướng vào bên trong bản thân mình để luôn đạt được trạng thái yên
bình trong tâm. Muốn trở thành một người tích cực và thiện lương,
hãy giao lưu với những người tích cực và những con người thiện lương
để cuộc sống luôn tràn ngập những điều tốt đẹp. Giống như các cụ có
câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng".
-------------
- Tâm chẳng những là cội nguồn tạo lập ra
tất cả như đã nói ở phần trước, tâm sanh cảnh giới, sanh tướng, tâm tạo thế
giới ... ngoài ra tâm cũng sẽ quy định phàm nhân hay thiên nhân hoặc thánh nhân
... và tâm sẽ gắng kết lại những tâm giống nhau về một nơi.
- Thí như tâm là một viên nam châm đi, thì
nam châm sẽ hút những thứ có cùng bản chất như là nam châm khác hoặc là kim
loại, chứ tâm chẳng hút các thứ như bùn đất, ao nước ... hoặc là sẽ hút, hoặc
là sẽ bị hút.
- Hành giả chán nãn cuộc sống của mình do
đâu mà cứ gặp những người gian trá, lừa lọc, ngạo mạn, toan tính ... thật ra
thì chính ở nơi tâm của mình có những thứ như thế, nên mới gặp những người như
thế, dù là hiện tại chẳng có, nhưng quá khứ đã có, nên hôm nay hợp duyên mà
gặp.
- T biết là bạn tu, t biết là bạn hành trì
pháp môn, t biết bạn là người đọc kinh sách, t biết bạn tốt, nhưng ở đâu đó len
lõi trong tâm của mình, bạn có còn ganh ghét, có còn tính toán, có còn hận thù
không, làm sao không có. Thế nên dù cho bạn có là Phật tử đi nữa, thì việc gặp
người ác là chuyện thường vì rằng bạn có sự ác.
- Thế nên là muốn cuộc sống mình thế nào,
chính mình phải được như thế ấy thì từ từ duyên sinh mà trong mọi nơi mình đến,
mọi người mình gặp sẽ cùng bản chất như mình. Chính mình sẽ vẽ ra tương lai và
nơi mình sẽ đến, cuộc đời của mình ...
- Nếu như bạn thật sự tốt, thì bạn đã không
ở ta bà trừ bạn có nguyện độ sanh, nếu bạn tốt, bạn đã ở tịnh độ hoặc trên
thiên cung mà gặp gỡ những người có tâm thiện lành, tốt đẹp, chứ chẳng phải ở
nơi đây mà gặp thiện, ác, tốt, xấu ... đủ loại.
- Tâm sẽ luôn tìm đến nơi phù hợp với bản chất,
hoặc là đến hoặc sẽ kéo đến, chứ chẳng đi đến nơi không phù hợp. Một lý đơn
giản là cứ xem giữa bạn thân và kẻ thù, tuy giống nhau là con người, nhưng khác
nhau là tâm của mình hợp với bạn thân chứ chẳng hợp với kẻ thù.
- Ở thế gian cũng thế đấy, nếu như thiện
thì bạn sẽ gặp thiện, nếu ác sẽ gặp ác, nếu có cả hai thì sẽ gặp cả hai, không
có gì lấy làm lạ cả.
- Như t đã nói, đúng là ít đại chúng xem
thật ^^, nhưng chẳng sao cả, chỉ cần có đạo hữu xem thì t vẫn viết, chứ chẳng
phải tham danh lợi mà viết để kiếm tìm danh lợi. Đa phần thì tâm lý thôi mà, họ
rất thích các thứ cao siêu mà bỏ qua cái nền móng, t cũng từng như thế, nên
cũng hiểu được.
- Mong rằng đạo hữu nào vẫn đang xem những
bài viết của t thì lại sẽ tiếp tục xem, t chẳng dám viết bừa, viết bậy, thế thì
vướng vào phá hoại Tam Bảo thì Phật ở hiền kiếp diệt độ cả rồi không biết đã
thoát khỏi vô gián địa ngục hay chưa. T chỉ muốn giúp quý đạo hữu hiểu hơn về
Pháp thôi, về thứ mà t đã có duyên để học trước.
_ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật _
_ Nam Mô A Di Đà Phật _
_ Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật _
_ Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
_
_ Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát _
_ Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát _
_ Nam Mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát _
_ Nam Mô Phổ Hiền Bồ Tát _
_ Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát _
_ Nam Mô A Dật Đa Bồ Tát _
_ Nam Mô Dược Vương Bồ Tát _
_ Nam Mô Dược Thượng Bồ Tát _
_ Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo _
-------------
- Tâm chẳng những là cội nguồn tạo lập ra
tất cả như đã nói ở phần trước, tâm sanh cảnh giới, sanh tướng, tâm tạo thế
giới ... ngoài ra tâm cũng sẽ quy định phàm nhân hay thiên nhân hoặc thánh nhân
... và tâm sẽ gắng kết lại những tâm giống nhau về một nơi.
- Thí như tâm là một viên nam châm đi, thì
nam châm sẽ hút những thứ có cùng bản chất như là nam châm khác hoặc là kim
loại, chứ tâm chẳng hút các thứ như bùn đất, ao nước ... hoặc là sẽ hút, hoặc
là sẽ bị hút.
- Hành giả chán nãn cuộc sống của mình do
đâu mà cứ gặp những người gian trá, lừa lọc, ngạo mạn, toan tính ... thật ra
thì chính ở nơi tâm của mình có những thứ như thế, nên mới gặp những người như
thế, dù là hiện tại chẳng có, nhưng quá khứ đã có, nên hôm nay hợp duyên mà
gặp.
- T biết là bạn tu, t biết là bạn hành trì
pháp môn, t biết bạn là người đọc kinh sách, t biết bạn tốt, nhưng ở đâu đó len
lõi trong tâm của mình, bạn có còn ganh ghét, có còn tính toán, có còn hận thù
không, làm sao không có. Thế nên dù cho bạn có là Phật tử đi nữa, thì việc gặp
người ác là chuyện thường vì rằng bạn có sự ác.
- Thế nên là muốn cuộc sống mình thế nào,
chính mình phải được như thế ấy thì từ từ duyên sinh mà trong mọi nơi mình đến,
mọi người mình gặp sẽ cùng bản chất như mình. Chính mình sẽ vẽ ra tương lai và
nơi mình sẽ đến, cuộc đời của mình ...
- Nếu như bạn thật sự tốt, thì bạn đã không
ở ta bà trừ bạn có nguyện độ sanh, nếu bạn tốt, bạn đã ở tịnh độ hoặc trên
thiên cung mà gặp gỡ những người có tâm thiện lành, tốt đẹp, chứ chẳng phải ở
nơi đây mà gặp thiện, ác, tốt, xấu ... đủ loại.
- Tâm sẽ luôn tìm đến nơi phù hợp với bản
chất, hoặc là đến hoặc sẽ kéo đến, chứ chẳng đi đến nơi không phù hợp. Một lý
đơn giản là cứ xem giữa bạn thân và kẻ thù, tuy giống nhau là con người, nhưng
khác nhau là tâm của mình hợp với bạn thân chứ chẳng hợp với kẻ thù.
- Ở thế gian cũng thế đấy, nếu như thiện
thì bạn sẽ gặp thiện, nếu ác sẽ gặp ác, nếu có cả hai thì sẽ gặp cả hai, không
có gì lấy làm lạ cả.
- Như t đã nói, đúng là ít đại chúng xem
thật ^^, nhưng chẳng sao cả, chỉ cần có đạo hữu xem thì t vẫn viết, chứ chẳng
phải tham danh lợi mà viết để kiếm tìm danh lợi. Đa phần thì tâm lý thôi mà, họ
rất thích các thứ cao siêu mà bỏ qua cái nền móng, t cũng từng như thế, nên
cũng hiểu được.
- Mong rằng đạo hữu nào vẫn đang xem những
bài viết của t thì lại sẽ tiếp tục xem, t chẳng dám viết bừa, viết bậy, thế thì
vướng vào phá hoại Tam Bảo thì Phật ở hiền kiếp diệt độ cả rồi không biết đã
thoát khỏi vô gián địa ngục hay chưa. T chỉ muốn giúp quý đạo hữu hiểu hơn về
Pháp thôi, về thứ mà t đã có duyên để học trước.
_ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật _
_ Nam Mô A Di Đà Phật
_
_
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật _
_
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật _
_ Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát _
_ Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát _
_ Nam Mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát _
_ Nam Mô Phổ Hiền Bồ Tát _
_ Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát _
_ Nam Mô A Dật Đa Bồ Tát _
_ Nam Mô Dược Vương Bồ Tát _
_ Nam Mô Dược Thượng Bồ Tát _
_
Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo _
-------------
THẬP THIỆN NGHIỆP
******
(MƯỜI ĐIỀU LÀNH)
Kính lạy Đức Phật từ bi, Ngài đã dạy cho
chúng con biết 10 phương pháp sống tốt trong cuộc đời. Chúng con nguyện thực
hành theo nếp sống thanh cao này và chia sẻ với tất cả mọi người xung quanh, để
cùng xây dựng một thế giới hòa bình, hạnh phúc.
I. BÀI HỌC
1. Định nghĩa
- Thập là 10, thiện là tốt lành, nghiệp là
hành động có chủ ý. Thập thiện nghiệp là 10 việc làm tốt lành, mang lại lợi ích
cho hiện tại và tương lai.
- Mười điều lành gồm có: không sát sanh,
không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêm bớt, không nói hai
chiều, không nói lời ác, không tham lam, không giận dữ, không si mê.
2. Giải thích 10 điều lành
- Không sát sanh: là không giết hại sinh
mạng chúng sanh.
- Không trộm cướp: là không lấy vật dụng
của người khác, nếu họ không cho.
- Không tà dâm: là sống chung thủy với vợ
(chồng) của mình.
- Không nói dối: là không nói sai sự thật.
- Không nói thêm bớt: là không nói thêm
điều này, bớt điều kia.
- Không nói hai chiều: là không đến chỗ này
nói thế nọ, đến chỗ khác lại nói thế kia, gây chia rẽ, oán hận.
- Không nói lời ác: là không nói lời thô
tục, không trù ẻo kẻ khác.
- Không tham lam: là không ham muốn quá độ.
- Không giận dữ: là không tức tối hay giận
hờn người khác.
- Không si mê: là không mê mờ, ngu si, mà
sáng suốt, trí tuệ.
3. So sánh 10 điều lành và 10 điều dữ
- Lành (thiện): là những việc làm đem lại
an vui cho mình và người khác trong hiện tại lẫn tương lai.
- Dữ (ác): ngược lại với lành (thiện), là
những việc làm đem lại đau khổ cho mình và người khác trong hiện tại lẫn tương
lai.
- 10 điều dữ (thập ác nghiệp): là mười việc
làm ác, trái với 10 việc làm lành. Bao gồm: sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói
dối, nói thêm bớt, nói hai chiều, nói lời ác, tham lam, giận dữ, si mê.
4. Lợi ích của việc thực hành 10 điều lành
Thực hành được 10 điều lành, chúng ta sẽ có
lợi ích như sau:
- Về thân: sống trường thọ, vợ chồng hạnh
phúc, của báu dồi dào, không bị ai xâm đoạt.
- Về miệng: lời nói có giá trị, mọi người
kính tin, không bị vu khống, giữ gìn được kho tàng chánh pháp.
- Về ý: được mọi người yêu mến, tâm bồ đề
kiên cố, trí tuệ sáng suốt, đầy đủ hạnh lành, chóng thành tựu đạo quả.
5. Kết luận
Thập thiện nghiệp (mười điều lành) là nếp
sống thanh cao của người Phật tử. Thực hành 10 điều lành, hiện tại chúng ta
được mọi người thương yêu tôn trọng, tương lai sẽ hưởng phước báo vô lượng,
được sanh về cõi trời an vui.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT NAM MÔ
BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ DI LẶC TÔN PHẬT
NAM MÔ DI LẶC TÔN PHẬT
NAM MÔ DI LẶC TÔN PHẬT
--------------------------
CHƯ PHẬT CÓ BỐN ĐẠI ĐỨC
Chư Phật có bốn đại-đức. Vậy ta niệm
danh-hiệu Phật để nhớ Phật và rán sức làm theo bốn đại-đức của Phật đặng ngày
sau chứng quả như Ngài. Bốn đức ấy là:
1.- Đức Từ: Phật đối với chúng-sanh như mẹ
với con, lúc nào cũng lo-lắng đến, hết lòng dìu-dắt, dạy-dỗ, không nỡ để
chúng-sanh sa vào đường tội lỗi mà chịu khổ não;
2.- Đức Bi: Nếu chúng-sanh nào dạy-dỗ chẳng
nghe, làm điều độc-ác để phải tội thì Phật chẳng vì thế mà ghét bỏ, lại thương
xót không cùng;
3.- Đức Hỉ: Thường thường an vui mà làm
những việc lành. Dầu gặp hoàn-cảnh trái-nghịch cũng chẳng vì thế mà sanh lòng
buồn-bã;
4.- Đức Xả: Ngài chẳng chấp một pháp nào
trong thế-gian, sẵn lòng lìa xa các nghiệp tiền-trần, tha-thứ hết thảy những ai
tối-tăm lầm-lỗi, chẳng còn vướng-víu chi với cuộc lợi-danh, tài-sắc, nhìn cõi
đời chẳng bao giờ sanh lòng luyến ái.
Trích thì văn giáo lý PGHH
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật
( xin thường nhớ niệm phật)
-----------------------
QUAN ÂM BỒ TÁT KHUYÊN ĂN CHAY (công đức
"chia sẻ" là công đức phóng sanh)
Mẹ hiền cứu khổ Quan Âm
Mượn tay Ngọc Nữ Huyền Trang ghi lời
Mẹ nay hạ bút cứu đời
Dạy khuyên con trẻ y lời Mẹ ban
Ăn chay khỏi bệnh - nghiệp tan
Ăn chay mạnh khỏe trái oan chẳng còn
Ăn chay huệ phước song toàn
Ăn chay niệm Phật phước càng tăng cao
Ăn chay sửa tánh dồi trao
Ăn chay mới biết thấp cao tu hành
Ăn chay niệm Phật làm lành
Ăn chay mới trổ nhiều cành hoa Tiên
Ăn chay kết được thiện duyên
Ăn chay mới thấy điển Thiên tăng dần
Ăn chay mở trí Hội thân
Ăn chay mở được sáu tầng ngục môn
Ăn chay giữ được xác hồn
Ăn chay tăng nghiệp phước dồn về sau
Ăn chay cửa Phật đặng vào
Ăn chay áo gấm mão bào Mẹ ban
Ăn chay cứu được tam tràng
Ăn chay cứu được bảy đời mẹ cha
Ăn chay niệm chữ Di Đà
Ăn chay con cháu cả nhà hiền lương
Ăn chay Phật chứng mười phương
Ăn chay ở thật người thương kẻ chào
Ăn chay Phật Thánh đón vào
Ăn chay Cha Mẹ rượu đào đợi ban
Ăn chay không có gian nan
Ăn chay con cháu giàu sang hơn người
Ăn chay chẳng sợ chê cười
Ăn chay để mở mười điều từ bi
Ăn chay Kinh trí ráng trì
Ăn chay để thấy những gì khai thông
Ăn chay biết được non bồng
Ăn chay mới thấy cái lòng biết yêu
Ăn chay niệm Phật sớm chiều
Ăn chay mới thấy được nhiều điển quang
Ăn chay không có chết oan
Ăn chay sống mãi còn tăng lộc tài
Ăn chay vạn kiếp gặp may
Ăn chay Tiên Phật đáp lai hộ trì
Ăn chay có dạ từ bi
Ăn chay thương hết những gì có thân
Ăn chay mới biết xa gần
Ăn chay mới biết mấy tầng thấp cao
Ăn chay khỏi đổ máu đào
Ăn chay mới được bước vào cửa Thiên!!!
Ăn chay khỏi bị sích xiềng
Ăn chay mới thoát khỏi miền trầm luân
Ăn chay nghiệp chướng mới dừng
Ăn chay thoát kiếp mình từng trả vay
Đời này mạt pháp hạ ngươn
Ăn chay rửa xác để còn dự thi
Muôn vàn vạn kiếp béo phì
Gieo nhân thường mạng đến thì kiếp nay
Ăn chay sửa tánh thẳng ngay
Tạm dùng dưa muối mặc ai chê cười
Ăn chay khỏi bệnh tiểu đường
Ăn chay nhức khớp khỏi vương theo mình
Ăn chay là cứu sinh linh
Ăn chay là hết nghiệp hình về sau
Ăn chay trị huyết áp cao
Ăn chay bao tử không cào bên trong
Ăn chay làm phước sửa lòng
Thân tâm thanh tịnh thoát vòng oan khiên
Ăn chay hết bệnh kinh niên
Tim - gan - ruột - thận bệnh im như thường
Dù cho bệnh nặng phải vương
Ăn chay lọc huyết máu càng lưu thông
Người gầy ốm yếu lại mong
Ăn chay đỏ thắm ngày càng đẹp ra
Tiểu đường lên máu bệnh đa
Ăn chay đổi máu khỏi ra tốn tiền
U nang cùng với viêm xoang
Ăn chay hết bệnh vậy thì mới tin
Ăn chay chữa bệnh tài tình
Loãng xương tuột máu không còn trong thân
Máu lên suy sẫm chân tay
Đầu xoay mặt chóng ướt đầm mồ hôi
Ăn chay niệm Phật biết rồi
Không còn bệnh tật nhả nhồi ở thân
Ăn chay đổi máu muôn phần
Bệnh suyễn sỏi mật cũng dần tiêu tan
Ăn chay trị được bệnh gan
Dù cho cổ chướng cũng liền biến mau
Ăn chay không có bệnh đau
Bởi vì không có vi trùng chúng sanh
Không có máu thịt hôi tanh
Không thêm độc tố ký sinh hại người
Ăn chay giải độc trong thân
Cái thanh ta giữ - trược thì tống xa
Xác thân như ngọc như ngà
Tâm khai huệ mở Phật Đà đâu xa
Ăn chay chơn điển hài hòa
Gần chân Bồ Tát - xa lìa quỷ ma
Ăn chay phước đức hà sa
Ăn chay niệm Phật vượt qua hiểm nghèo
Ăn chay Thần Thánh hộ theo
Độ đưa đến chốc đắc thành Như Lai
Phong thần có một không hai
Hạ ngươn mạt pháp Ta nay xuống bài
Sửa trau tu học mỗi ngày
Đề thi có sẵn đính bài chờ danh
Kỳ này mau dự cho nhanh
Để không phải chịu mất danh cả đời
Uổng đi một kiếp có thân
Mất rồi biết đến mấy ngàn tái sanh
Tái sanh luẩn quẩn loanh quanh
Thú cầm ngã quỷ bị hành ngục môn
Mất đi một kiếp khó tồn
Hiện giờ còn xác tỉnh hồn để tu
Kỳ ba xá tội tha người
Kỳ ba mở Hội chọn người hiền lương
Kỳ ba Phật thánh mở đường
Đề thi có sẵn chọn trường để thi
Phong thần tên tuổi đã ghi
Y như điều kiện chắc thì đậu ngay
Lời Phật nói một không hai
Ai người ghi sớm Ta cho đắc thành
Đề tên với tuổi năm sinh
Số nhà – Quận – Huyện – Ấp Thành ở đâu
Ghi nhanh để nộp bảng đầu
Phong thần nhất bảng ghi đầu tên danh
Quyết tâm bảng dự thực hành
Chọn trường cho đúng phải hành cho y
Trường có Giáo Chủ chấm thi
Người trần mau đến chọn thi kịp về
Quan Âm cứu khổ đã đề
Phong thần tái bản cứu người trần gian
Lời thề chứng có Thiên Hoàng
Tu như bảng
dụ đắc thành chẳng sai
Nếu không chứng đắc như ngày
Ta thề không xứng phong thần Quan Âm
Phật Tổ đã thuyết chẳng nhầm
Ai tu theo đúng phong thần đã ghi
Nếu không đắc đạo một khi
Ta không chánh giác Long Hoa kiếp này
Phong thần tái thế kỳ ba
Phật Tổ thuyết pháp - Đạt Ma ghi lời
Quan Âm nước mắt nhỏ rơi
Phong thần hạ bút -cứu đời hạ ngươn
***
------------------------
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật .
Nam mô A di đà Phật.
Phàm là các chúng sanh có sanh mạng, chúng
ta thường gọi là động vật quý vị giết nó, nó có oán hận hay không ,Nó chẳng có
khả năng chống cự, bị quý vị giết bị quý vị ăn, nó có cam tâm tình nguyện hay
không Nếu chẳng cam tâm, không tình nguyện, nó có báo thù hay không Nhất là giết người, hiện thời mỗi ngày giết
người bao nhiêu Ví dụ rõ ràng nhất là
phá thai. Phá thai là sát nhân, chẳng phải là giết ai khác, mà chính là giết
con cái của chính mình.
-Trên thế giới mỗi ngày có bao nhiêu trường
hợp phá thai, Đáng sợ quá Mỗi năm giết
bao nhiêu Nó có duyên với quý vị, đến làm con cái của quý vị. Nếu là báo ân,
quý vị giết nó đi, sẽ biến thành cừu nhân. Nó đến báo oán, quý vị giết nó, cừu
hận càng sâu! Oán khí ấy kinh khủng lắm! Nó đến đòi nợ, hoặc trả nợ, nợ nần còn
đang tranh chấp, nay biến thành sát nghiệp, lại biến thành nợ mạng, đáng sợ
quá! Người hiểu nhân quả quyết định chẳng dám làm chuyện này, rất đáng sợ! Hiện
thời, không khí ô nhiễm, mỗi ngày quý vị thấy bầu trời xám mù mịt. Đó là gì vậy
Oán khí đấy, chẳng phải là thứ gì khác.
-Những chuyện con người đang làm hiện thời
còn thua cả súc sanh! Súc sanh như sư tử, cọp chẳng ăn con cái của chính mình,
sẽ không tổn hại chúng! Con người hiện thời ngay đến súc sanh mà vẫn chẳng
bằng, đáng sợ quá , Oan oan tương báo chẳng dứt, chẳng xong, phiền phức to lắm
Ăn thịt hết thảy các động vật lại chẳng cần phải nói nữa. Chẳng có động vật nào
cam tâm tình nguyện đem thân thể của chính mình dâng lên cúng dường quý vị. Quý
vị giết nó, muốn ăn thịt nó, nó biết, tìm mọi cách chạy trối chết, nhưng trốn
chẳng thoát Bị quý vị giết bị quý vị ăn.
-Trong hết thảy ác nghiệp, sát sanh xếp
hàng đầu. Trong Ngũ Giới, điều đầu tiên là chẳng sát sanh. Trong Thập Thiện,
điều đầu tiên cũng là không sát sanh. Vì thế, trong giới luật Đại Thừa lẫn Tiểu
Thừa, điều được khẳng định đầu tiên là không sát sanh. Đó là chư Phật Như Lai
đại từ đại bi, thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta, quyết định chớ nên tạo
tội nghiệp ấy. Muỗi, trùng, kiến đều có sanh mạng, chớ nghĩ chúng là nhỏ nhoi,
mỗi con cũng là một mạng. Kẻ thường sát sanh, điều thứ nhất, chắc chắn là thân
thể chẳng tốt, nhiều bệnh, lắm tai ương, nhiều bệnh tật, đời sau là quả báo
trong tam đồ, làm sao có thể trốn thoát cho được! Trong một đời này, bất cứ lúc
nào đều có oán thân trái chủ theo bên thân quý vị, các vị có dễ sống hay chăng
Những lời này chẳng phải là nói láo nghe chơi, mà là chân tướng sự thật.
-Để
cứu vớt xã hội hiện thời, luân lý và đạo đức hữu dụng hay không Nói thật ra,
chẳng hữu dụng Thứ gì hữu dụng , Giáo dục nhân quả hữu dụng, dùng giáo dục luân
lý đạo đức để phụ trợ giáo dục nhân quả. Chúng ta nhất định phải biết: Người
được giáo dục luân lý, đạo đức, xấu hổ vì làm ác. Cổ nhân nói: Họ cảm thấy làm
chuyện bất thiện sẽ là chuyện mất mặt, chẳng muốn làm; nhưng người được giáo
dục nhân quả không dám làm ác, sức mạnh ấy mới to lớn. Người được hưởng giáo
dục luân lý đạo đức rất tốt đẹp, nhưng gặp phải tình cảnh danh cao, lợi dầy như
cổ nhân đã nói, vẫn có thể bị động tâm, vẫn là biết rõ mà cố phạm, vì thấy lợi
ích to tát trước mắt mà làm. Nếu hiểu nhân quả, người ấy sẽ chẳng dám làm.
-Ai nấy tin nhân quả là đạo đại trị trong
thiên hạ. Ai nấy chẳng tin nhân quả là đạo khiến cho thiên hạ đại loạn ,khuyên
con người tích âm đức, đoạn ác tu thiện, đó là tích âm đức. Phần này có phân
lượng rất lớn, gần như chiếm nửa bộ sách. Nửa còn lại của bộ sách gồm có ba
thiên, Vạn Thiện Tiên Tư khuyên kiêng giết, Dục Hải Hồi Cuồng khuyên kiêng dâm.
Trong các tội nghiệp, hai điều này nặng nhất. Thiên cuối cùng là Tây Quy Trực
Chỉ, khuyên quý vị niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
tôi có cảm giác thật sâu đậm là Ngài đến thị hiện giáo dục nhân quả cho
chúng ta, nhằm mục đích gì ,Cứu vớt xã hội hiện tiền.
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật .
Nam mô A di đà Phật.
------------------------
SỰ TÍCH VỀ THÁNH MẪU THIÊN Y A NA.
Dáng thơ lúc 10 giờ 22 phút
Ngày 8 tháng 11/2018 - Mậu Tuất
Hôm ấy trên cõi Thiên Đình rực rỡ
Hội hoa đăng lấp lánh cả muôn sao
Chín tầng không hương hoa tỏa ngọt ngào
Mây bốn hướng chuyển xuôi về một nẻo
Chốn cung thềm ánh trăng buông lạnh lẽo
Vẻ ưu huyền trầm lặng với trang nghiêm
Vì hôm nay cung tiễn đấng Thần Tiên
Xuống hạ giới để thăm miền trần tục
Hoa muôn phương nở dâng đều một lúc
Nhạc thanh bình trỗi khúc đón Tiên Nga
Rộn nghê thường xiêm áo ngập mấy tòa
Chừng vũ trụ cũng ngừng quay đôi phút
Cơn sấm chớp gió mưa và bão lụt
Quét trần gian tỏa sáng ánh hào quang
Trong vườn hoa bỗng hiện một Tiên nàng
Thân thể ngọc nước mây vờn dáng liễu
Đượm cốt cách vẻ đoan trang yểu điệu
Đây Tiên nương vui lạc chốn đường trần
Vì kiếp xưa đã nguyện với nhân gian
Rằng tái kiếp Mẹ dáng trần cứu thế
Người dáng xuống giữa vườn dưa lặng lẽ
Bàn chân êm vui dạo cảnh trời mai
Vườn trần gian in dấu vết chân hài
Chim dâng ngạc hót ca đời vĩnh phước
Tiên chúa mải ngắm dưa và lạc bước
Bỗng dừng chân khi gặp một cụ già
Tóc bạc phơ phủ nét mặt hiền hòa
Chống gậy trúc ý thăm vườn buổi sáng
(gậy trúc chính là Tiên)
Ngắm Tiên chúa bỗng người như choáng váng
Phút lạ lùng sao động cả tâm thần
Người là ai? Tiên nữ hay gái trần???
Mà diện mạo khiến lão càng ngờ vực
Người là ai? Là cao sang tột bậc
Là cung tần? Là công chúa? Tiên nương?
Hoặc thứ dân hay thôn nữ tầm thường
Xin nói tỏ cho lão già tường tận
Tiên chúa khi thấy người thì ngớ ngẩn
Muốn hóa thân nhưng quá muộn ngỡ ngàng
Vì Tiên nhân khi đã gặp trần gian
Không muốn để lộ thiên cơ huyền diệu
Nhưng bình tĩnh qua phút giây suy liệu
Chúa mỉm cười! Tôi một kẻ thường dân
Mải tìm hoa nên lạc nẻo vào vườn
Xin lão chủ hãy niệm tình tha thứ
Không! Ta không tin người con dân thứ
Vì trẻ thơ mà đã lộ thiên tài
Và nghe già! Người hãy lắng tai
Già sẽ kể đời già ôi khổ lắm
Vợ chồng già sống đăm chiêu năm tháng
Một mảnh vườn với những luống dưa này
Túp lều tranh sương gió lạnh bao ngày
Mà không một chút con vui sớm tối
Ngày hôm nay quả là ngày cơ hội
Phước Trời ban cho những kẻ cô đơn
Trong vườn dưa già đã gặp được người
Như đã gặp cả muôn ngàn châu báu
Này người hỡi! Đây lều tranh của lão
Ghé vào đây – người tạm trú nơi này
Để lòng già sống lại những phút giây
Của nhựa sống mùa xuân về gợi thắm
Dưới mái tranh tháng ngày qua êm lặng
Sống quạnh hiu bên mái núi Nha Trang
Vợ chồng già kham khổ với cơ hàn
Nhưng phước đức nhân từ ai sáng kịp
Người đã từng nhịn ăn trong những dịp
Dành khoai dưa cho những kẻ đói lòng
Người đã từng giúp đỡ kẻ long đong
Từng cứu vớt những tai ương hoạn nạn
Về nơi đây bên chân đồi ngày tháng
Và lạnh buồn không một chút con yêu
Nhưng từ nay người đã hết cô liêu
Vì Tiên chúa giáng lâm làm nghĩa nữ
Bỏ tiên cảnh về làm dân lê thứ
Nơi trần gian người sống với nhân gian
Cùng mẹ cha bảo quản nỗi cơ hàn
Lòng hiếu tử có từ muôn kiếp sẵn
Thế rồi sống dưới lều tranh năm tháng
Người đã thành một thôn nữ diệu huyền
Hầu mẹ cha lấy chữ hiếu vi tiên
Người xã hội nghĩa đền ơn đáp trả
Giúp song thân những ngày đơn tháng giá
Khi quạt nồng – khi áp lạnh đạo làm con
Hiếu đã tròn ân nghĩa lại vẹn toàn
Lịch năm tháng quay đều cùng vũ trụ...
Thế rồi trong một đêm đầy phong vũ
( mưa to gió lớn)
Vợ chồng già qua cơn bệnh miên man
Hai người từ trần để lại Tiên nương
Túp lều vắng từ nay thêm lạnh lẽo
Nhớ mẹ cha lòng càng thêm khô héo
Nỗi u buồn chất nặng cả tâm tư
Rồi một đêm bỗng sấm chớp mưa về
Tiên chúa hóa cây Trầm trôi ra biển...
Xuôi dòng nước Trầm theo đà Bắc tiến
Và một hôm trôi đến cảnh thành đô
Gió mưa về Trầm cập bến sông Tô
Là bến nước hoàng thành bên Trung Quốc
Hôm nay nhân ngày vui hưng quốc
Hội hoa đăng thuyền lướt khắp dòng sông
Một toán quân bỗng gặp được cây Trầm
Trôi lơ lửng trờn vờn trên mặt nước
Thuyền xúm lại trăm quân ra sức vớt
Để đem Trầm lộp cho quốc vương
Tuy trăm quân sức mạnh đã phi thường
Nhưng Trầm vẫn nằm yên không lay chuyển
Quả đâu đây có thần linh hiển hiện
Trăm quân nhìn yên lặng hãi kinh
Nhân hôm ấy sau buổi chầu vừa bãi
Thay mặt cha Thái tử ngự hoa đăng
Một tên quân phi báo đến thuyền rồng
Ngài truyền lệnh xuôi thuyền xem gỗ lạ
Thái tử đếm xem qua rồi vỗ!
Tự tay bưng nhẹ gỗ Trầm lên
Thì ô hay nhẹ như cánh hoa xuân
Ngài tự đặt lên long thuyền kính cẩn
Vì ngài nghĩ – chuyện này còn bí ẩn
Phải chăng đây danh mộc thiêng liêng
Đến long thành ngài truyền lệnh quân khiêng
Nhưng sức dẫu bạt sơn cử đỉnh
Vẫn hàng phục trước cây Trầm ngộ nghĩnh
Thế rồi Thái tử tự tay mình
Rước Trầm vào để tại tư dinh
Trong tủ bóng sơn son lộng lẫy
Lại lót thêm nhiều lụa với sô sa!
Chỉ riêng ngài không ai được vào ra
Hay xem ngắm cây gỗ Trầm quý giá
Từ ngày ấy Thái tử đêm buồn bã
Như trong lòng vương vấn sợi tơ duyên
Dẫu cung tần – mỹ nữ vẫn ưu phiền
Như chờ đợi chuyện gì xa xăm lắm
Rồi từ đó trong đêm trường vắng lặng
Ngài không sao xa được gỗ Trầm kia
Và một đêm vào giữa khoảng canh khuya
Thái tử ngỡ mơ màng trong mộng
Vì trước ngài – tủ Trầm là tiên động!!!
Và trong Trầm một mỹ nữ bước ra
Thì đâu đây một trận mưa hoa
Đầy ngũ sắc và hào quang chói lọi
Vui mừng quá – ngài toan ra chào hỏi
Nhưng bên ngài lại cảnh cũ như xưa
Đó cây Trầm trong tủ đứng nhà vua
Đây chỉ là tư dinh Hoàng thái tử
Ngài nghi lắm và đêm nay không ngủ
Để đợi xem sự lạ của đêm qua
Đêm nay ngài thức suốt canh ba
Ngồi lắng đợi giữa canh trường vắng vẻ
Bỗng từ xa như muôn ngàn tiếng vọng
Nhạc Thần Thiên trỗi khúc sông nghê
Mưa hoa từ đâu cũng lái bay về
Một Tiên nữ trong gỗ Trầm yển chuyển...
Nhẹ bước ra với nụ cười tươi tắn
Mắt long lanh như thu cả nước trời
Làn suối tóc như thiên thai suối ngọc
Da hồng mịn như trời mai mới mọc
Tay nõn nà khác những kẻ trần gian
Xem qua bỗng Thái tử vội vàng
Ngài chạy đến chào ngay Tiên chúa
Tiên nương khi biết mình đã lộ...
Vì trần gian thấy được người Tiên
Phép huyền cơ đã lộ cơ truyền
Nên Tiên chúa vội cúi chào Thái tử
Nét gia phong nghìn năm vẫn giữ
Cung kính người yểu điệu đoan trang
Rước Tiên nương an tọa trên bàn
Và thú thật nỗi lòng mong đợi
Riêng Tiên chúa Ngài mỉm cười không nói
Vì nhân duyên Chúa biết tự bao giờ
Vội vàng Thái tử tả tâm thơ
Để Tiên chúa họa vần xem ý nguyện
Sáng hôm sau khắp hoàng thành rực rỡ
Quốc tế mừng Thái tử thành hôn
Trước Vua ban dân thứ suy tôn
Pháo nổ - riệu hồng vui như ngày tết
Thái tử một trang anh hùng tuấn kiệt
Với Tiên nương đức hạnh thắng nhân gian
Ngày thành hôn đất nước được vinh quang
Nhân dân thêm thịnh hành lạc nghiệp
Qua năm tháng và bao nhiêu thời tiết
Gió thanh bình vẫn thổi khắp non sông
Tiên chúa sinh được nhị vị tôn Ông
Mắt phượng – môi son oai hùng lẫm liệt
Một ngày kia vì nhớ tình cách biệt
Nhớ quê hương nên Tiên chúa buồn rầu
Nhân vui cùng Thái tử tựa hiên lầu
Ngài xin phép về quê thăm một chuyến
Nể Tiên chúa mặc dù đầy lưu luyến
Vẫn nhận lời cho Tiên chúa thăm quê
Cùng tôn Ông nhị vị đều về quê
Thuyền rồng là cây Trầm thủa trước
Qua mấy ngày Trầm xuôi trên mặt nước
Đưa ba Ngài về tận bến Nha Trang
Là nơi mà Tiên chúa đã giáng trần
Làm nghĩa nữ cho hai ngài bô lão
Về đây Tiên nương vội thăm mồ cũ
Của song thân và tạ lễ ngày đêm
Về nơi đây vui sống đã mấy năm
Mà Tiên chúa chưa phản hồi Trung Quốc
Để Thái tử ngày đêm càng thao thức
Nhớ con thơ và mong mỏi bạn hiền
Rồi một hôm truyền lệnh cho kết thuyền...
Xuôi Nam quốc để tìm nơi cố quận
Đã mấy tháng thuyền bơi rong ruổi
Hướng trời Nam – buồm lướt gió phăng phăng
Rồi một hôm thuyền ghé bến Nha Trang
Và tìm gặp Tiên nương trong lều vắng
Thái tử ân cần tỏ niềm cay đắng
Tạ lòng nhau Tiên chúa cũng rưng rưng
Vì kiếp xưa Chúa nguyện với chúng sanh
Rằng giáng thế nơi này và sẽ độ
Cho chúng sanh thoát khỏi điều đau khổ
Giúp dân tình qua hoạn nạn điêu linh
Về nơi đây thấy cảnh dân tình
Không nỡ bỏ quay về cùng Thái tử
Vậy hai con xin dâng người về giữ
Đem về theo khuya sớm học hành
Thái tử qua bao lần khuyên nhủ
Khi oai hùng – lúc êm dịu như tơ
Nhưng Tiên nương lòng vẫn lạnh như tờ
Trí đã quyết tìm phương giúp lê thứ
Thái tử đành ngậm ngùi quay khứ
Truyền ba quân cho thuyền đợi nhổ neo
Rước tôn Ông nhị vị cùng đi theo
Rồi từ biệt Tiên nương về Trung Quốc
Thuyền xuôi Tiên nương buồn trăm khúc
Nhưng mỉm cười và chúc được bình yên
Thế rồi Ngài trở lại lên non
Quy ngưỡng vọng nguyện cầu cho dân tộc
Cho mùa màng được thêm nhiều lúa thóc
Cho bệnh tình dân chúng hết đau thương
Cho giang sơn giàu mạnh với thịnh cường
Cho mưa thuận gió hòa dân lạc nghiệp
Lời nguyện cầu của lòng người tha thiết
Nên Trời ban phép lạ cứu dân sinh
Sau mấy năm hết hạn định thiên đình
Tiên chúa mới trở về tiên giới
Nhân dân quanh vùng ngày đêm sớm tối
Đều đau thương như mất cả mẹ hiền
Bèn cùng nhau lập miếu để ghi ơn
Tên núi cũng mang tên “Núi Chúa” (Bà Chúa
Mẹ)
Rồi hương hỏa và phụng thờ từ đó
Cho đến nay đã trải ngàn bốn trăm thu...
Mà danh còn vang động cả cõi trần
Và Mẹ vẫn tầm thanh cứu khổ
Khắp nơi nơi nào điện thờ ngoài phố
Ghi công ơn tế độ của Mẹ hiền
Vì Mẹ là Mẹ cả nhân gian
Là Thánh Mẫu anh linh vô hạn
Hàng phật tử non cao dưới cạn
Dẫu gặp bao gian khổ hoặc tai ương
Hãy nguyện cầu với Mẹ cho tường
Ắt sẽ được Mẹ hiền giải thoát
Lòng Mẹ là cả bầu trời bát ngát
Ân đức Ngài là biển rộng vô biên
Oai linh Ngài là vạn trạng muôn hình
Cho đến mãi không bao giờ cùng tận
Nhị vị tôn Ông cũng đều hiển Thánh
Theo chầu Mẹ ở tại cung tiên
Cùng một lòng cứu dân hạ giới
Đã bao năm cuộc đời dâu bể
Nay gặp con Mẹ kể hết sự tình
Mẹ kể có Trời Đất chứng minh
Chính Mẹ đây Âu Cơ dáng thế
Tái xuống trần Mẹ cứu chúng sanh
Ba ngàn năm nay đã quyết giành
Dẹp quỷ ác cứu người hiền đức
Mong các con nhanh nhanh tỉnh thức
Học sách kinh để cứu chính mình
Không thể cứu cho nào ai khác
Học bao nhiêu thấm vào thể xác
Cho con thơ khỏi mắc lỗi lầm
Tầm học Đạo bao ngày bao tháng
Hiểu cho thông từng chữ từng câu
Kinh Mẹ đây có phép nhiệm mầu
Mẹ đã nhắc từng câu học Đạo
Nay cuối kỳ thật là chao đảo
Quỷ với Thần giống hệt như nhau
Bởi vì nó cũng có phép nhiệm mầu
Ai không tỉnh quỷ vào phá rối
Bởi lòng người u mê tăm tối
Sao hiểu được hết lũ quỷ kia?
Chúng bày ra bao điều dối trá
Làm trái lương tâm với con người
Vì bạc vì tiền chúng đánh hơi
Chúng đâu biết Phật Trời nhiều phép
Cứu con thơ qua hết hiểm nghèo
Trên đường Đạo thật là cheo leo
Còn vất vả trèo đèo lội suối
Mẹ thử tâm – thử đức từng người
Xem ai người thật – ai là ma trơi
Bởi vì ở dưới cõi trần gian
Nay mắc họa muôn vàn cay đắng
Giờ sống – chốc chết có biết đâu???
Chỉ vài tích tắc sẽ vùi sâu
Xuống tầng địa ngục rồi sẽ rõ!
Bỏ sổ tử hình Mẹ mới thiêu...
Phép quỷ - phép tà có bao nhiêu???
Lời ăn tiếng nói cấm đặt điều
Mùa mưa năm nay là Mậu Tuất (2018)
Mẹ lại xuống trần cứu chúng sanh
Giúp các con, chỉ rõ học hành
Đường kinh sử sao cho rành mạch
Học tiếp để thi chuyến cuối cùng
Đò chiều đã hết luật chuyển rung
Gió thổi đùng đùng và sớm chớp
Mưa dần gió bấc khắp tứ phương
Động đất sụp nhà nhiều nơi khổ
Đói lòng qoằn qoại những con thơ
Mẹ đứng nhìn xem thấy sững sờ
Mong sao các con nơi trần thế
Cố gắng học kinh cứu lấy mình
Còn nhiều tại họa chưa dáng xuống
Hỡi những con trần phải học nhanh
Mất mùa đói rét dân đau khổ
Lệ ứa tuôn rơi cứu lấy đời
Mười phần chỉ cứu được ba thôi
Lệnh đây là chính của Phật Trời
Lệnh Cha Thượng Đế chỉ xuống đời
Giao cho quân Thần vây tứ phía
Hãy cứu con trần học kinh thơ
Nhiệm mầu đức hạnh thì mới cứu
Mẹ thấy cõi trần còn thê thản
Cảm hóa cho đời ít vậy thôi
Lòng Mẹ ngày đêm thấy bồi hồi
Dáng vào Ngọc Nữ ngồi ghi chép
Thức cả đêm dài viết kinh thơ
Bởi vì Mẹ đây đợi từng giờ
Mưa dầm gió bấc chẳng phải mơ
Thương con vất vả nơi trần thế
Mẹ kể đôi lời sự tích xưa
Con ơi dẫu có nắng cùng mưa
Mẹ hóa thân Trầm trôi ra biển
Để Mẹ gặp Cha hóa Tiên Rồng
Cứu những đứa con nơi trần thế
Mẹ bồng Mẹ bế cứu con thơ
Mong sao các con vượt bến bờ
Cho lòng Mẹ thỏa nỗi Thiên cung
Mẹ đợi ngày sau gặp con hồng
Các con là con của Tiên Rồng
Một trăm quả trứng Mẹ sinh ra
Từ thửa xa xưa là như thế
Nay về Mẹ kể các con nghe
Thiên Đình sinh ra ba vị Tổ
Phổ độ chúng sanh dáng cõi trần
Bước vào Tòa Sứ hầu Cha Mẹ
Chính là ba vị Tổ ở Thiên Cung
Chính là ba vị trứng Rồng
Chính là ba vị Thiên Cung nhà Trời
Hôm nay Mẹ nhắc với đời
Các con hiểu rõ Mẹ thời là ai
Mẹ đây là đấng anh tài
Mẹ về Tòa Sứ đêm ngày hầu Cha
Mẹ gọi các con gần xa
Đều về Tòa Sứ để mà hầu nhanh
Mẹ gọi các con về diểm danh
Từng tên – từng tuổi – từng nghành trần
gian
Vì thấy các con sắp gặp cảnh cơ hàn
Cho nên Mẹ phải cúi van Phật Trời
Xin Cha hãy cứu lấy đời
Một số con cháu để thời về sau!!!
A Di Là Phật.
Hạ bút cuối cùng lúc 11 giờ 6 phút
ngày 10/11/2018 -Mậu Tuất
Tòa Đại Sứ Đầm Sen Đắk Lắk
Ngọc nữ Huyền Trang viết kinh thơ./.
***
BIỂN KHÁNH HÒA NHA TRANG
8 giờ tối 20 tháng 2 năm Kỷ Hợi
Biển lung linh sao trời
Ôi thật là tuyệt vời
Bao chuỗi ngày xa cách
Hôm nay về Cha mách!!!
Con về biển tìm Cha
Dù có gặp phong ba
Con không hề nản trí
Đường đi thật trí lý
Bao khúc khỉu quanh co!
Bởi vì Cha lái đò
Đưa con về gặp Mẹ!
Ba ngày sao nhanh thế
Con đi kiếm tìm Cha
Về tới núi Lạc Đà!
Con chưa tìm thấy Mẹ!
Đêm nay ngủ chùa Thiên
Con mong gặp Mẹ hiền
Mẹ xuất hiện như Tiên
Về bên con chớp nhoáng
Hỡi người con yêu dấu!
Đã cách trở bao năm!
Đẹp như ánh trăng rằm
Sớm nay về Mẹ nhập!!!
Vào linh hồn Pháp Sư
Dù có thực hay hư
Con chính là con Mẹ!
Bốn ngàn năm Cha kể!!!
Cha Lạc, Mẹ Rồng Tiên
Đã đưa con thảo hiền
Từ Thiên Đình cho xuống
Uống nước phải nhớ nguồn
Con đừng buồn con nhé!!!
Từ khi còn tấm bé
Cha chấm điểm cho con
Cho con nhập linh hồn
Xuống vườn dưa lặng lẽ!
Gửi con xuống phàm trần
Cha cảm thấy phân vân
Một mình con gánh vác
Tay chèo lái con đò!!!
Thật nhọc nhằn vất vả...
Ôi tất cả vì đời
Vì đường Đạo mà thôi
Để cứu lấy người hiền
Những người con Cha Mẹ
Đã bao năm Cha đợi
Tại bờ biển Nha Trang
Cha đây chính Ngọc Hoàng
Dáng linh hồn Hưng Đạo
Đêm nay về Cha bảo
Ngọc Nữ chính Huyền Trang!
Là con Cha rõ ràng
Cho xuống trần cứu thế
Ôi thật là dâu bể
Trần lắm quỷ vô cùng
Con là đấng anh hùng!
Con không hề run sợ!
Hãy đợi Cha con nhé!
Cha sẽ dẹp quỷ yên!!!
Để đứa con thảo hiền
Đứng lên hầu Cha Mẹ
Đường Đạo thật hiên ngang
Đường Đạo thật rõ ràng
Con đàng hoàng bước tới
Bao ngày đêm Cha đợi
Con gái nhỏ yêu thương
Đã đi đúng con đường
Của Cha Rồng Mẹ Phượng
Về tới núi Phượng Hoàng
Mẹ đứng chờ con đó
Có một chú gà con
Chạy lon ton theo Mẹ!
A Di Là Phật.
Hạ bút Thiên dáng ứng thơ. /.
***
* Còn tiếp trong quyển số 23, do ứng dụng
giới hạn chữ đăng nên con xin trích đoạn.
* Để xem tiếp các quyển khác quý vị vào
phần liên kết ở dưới ạ:
* Link phần sách đủ bộ :
https://drive.google.com/drive/folders/1FOQtAkgNxLRYoTEnj4jD2PaEnqVnNM8b
* Link phần Kinh nghe ở youtube:
https://www.youtube.com/channel/UCzv_9g9owBPCs4loB61A0Jw
------------------
KINH MẪU THƯỢNG THIÊN
GIÁNG TRẦN CỨU KHỔ
---
Nay Đức Mẫu truyền kinh cứu khổ
Hỡi chúng sinh bớt chút thời gian
Muốn cho khỏi vận cơ hàn
Muốn cho bớt cả ức oan ở đời
Hỡi chúng sinh nghe lời Mẫu dạy
Hãy sống cho đúng đạo làm người
Đừng tham của cải chơi vơi
Ăn rồi phải trả gấp mười không sai
Tham rồi giàu chỉ nhất thời
Đời nay chưa hết trả mười đời sau
Ta khuyên bảo cùng nhau hôm sớm
Sống chính chuyên đạo lý làm người
Đời nay tiếng khóc, đời sau tiếng cười
Hay chi những kẻ ăn lười
Làm không ăn có để rồi hại dân
Đó là những kẻ bất nhân
Nợ này phải trả đồng lần con ơi
Nay kinh Mẫu dạy truyền đời
Ăn ở đức độ Phật Trời chứng tâm
Thấy người khổ ải trầm luân
Con ơi bớt chút lương tâm cho người
Thấy người điên dại chớ cười
Người cần giúp đỡ con thời sẵn tay
Thấy người già yếu qua cầu
Sẵn tay đón rước ơn sâu sánh bằng
Dù cho gian khó nhọc nhằn
Ta vẫn chánh đạo đừng tham của người
Thấy người đói rách tơi bời
Dù một lưng gạo cho người cũng hay
Đó là số phận ăn mày
Chẳng ai muốn sống ăn mày, ăn xin
Giúp họ là của để dành
Sau này Trời Phật để dành phần cho
Giúp người như của để kho
Mai kia vận hạn Phật cho lại mình
Ở đời có nghĩa có nhân
Mới hòng có phúc được ăn lộc Trời
Đừng như những kẻ vô loài
Bất nhân, bất nghĩa Trời đày xuống hang
Ơn vàng sẽ được trả vàng
Vô nhân đừng có than van kêu trời
Của làm phải đổ mồ hôi
Làm không ăn có là người hôi tanh
Vậy nên con phải tu nhanh
Đừng như những kẻ hôi tanh lỗi lầm
Sau này có phúc có phần
Phật Bà chứng giám, Mẫu dành phần cho
Đừng như những kẻ giả đò
Mồm thì niệm Phật, tâm thì hiểm sâu
Như vậy ý nghĩa gì đâu?
Thà rằng dốt nát Phật Trời xá cho
Hương trầm thơm ngát mười phương
Con ơi! hãy chọn mùi thơm hương trầm
Đừng nên sa ngã lỗi lầm
Dù rằng nghèo đói, cũng không sai đường
Thấy người xơ xác phải thương
Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn
Thương người như thể thương thân
Người ta lỡ bước, khó khăn đến nhà
Đồng tiền, bát gạo mang ra
Của thời tuy bé nhưng mà nghĩa sâu
Hỡi các con! hãy tu mau
Kiếp này cực nhọc, kiếp sau thành tài
Hãy nhẫn nhịn, bao dung độ lượng
Đừng tranh giành quên cả nghĩa thân
Mười phần phải được chín phần
Còn một phần nữa Phật Trời xá cho
Đừng như những kẻ đưa đò
Ở đời đâu có thước đo được lòng
Đó là đối với người trần
Phật Trời đo được cả lòng con ơi
Trên thiên đã có Phật Trời
Ác lại ác báo là nơi sự thường
Làm người ta phải biết thương
Đừng như những kẻ khinh thường làm kiêu
Lộc thì muốn vét cho nhiều
Nhưng mà báng nhạo mọi điều chê bai
Muốn cho con cái thành tài
Tu nhân tích đức mới nên ngai vàng
Tu thời tu ở tại tâm
Phật khắp mọi miền, Phật ở quanh ta
Không phải khoác áo cà sa
Miệng niệm Di Đà mới gọi là tu
Hoa thơm, thơm ở nhụy hoa
Hương thơm một nén, thơm đà khắp nơi
Người thơm để lại tiếng đời
Lộc thơm tuy ít nhưng mà no lâu
Văn thơm dù có một câu
Nhưng mà truyền lại kiếp sau vẫn còn
Con ơi đừng có tham lam
Bớt ra một chút để mà tu tâm
Bao nhiêu lộc ở xa gần
Rồi đây Mẫu sẽ giành phần cho con
Những ai mà đã có công
Phật Bà sớ tấu chấm công rành rành
Sau này con cái nên danh
Tức là Phật đã giành phần cho con
Dù cho cung cấm lầu son
Tâm vẫn héo mòn, sung sướng gì đâu
Vậy nên đừng có tham giàu
Nghèo mà tâm vẫn bình an hơn người
Hoa kia không sắc vẫn thơm
Có nhụy vẹn toàn một đóa hoa trinh
Con ơi cố gắng truyền kinh
Để cho muôn vạn chúng sinh được nhờ
Việc Thánh con chớ hững hờ
Truyền kinh cứu khổ Mẫu thời độ cho
Chọn người có đức, có tâm
Mẫu gửi tấm lòng truyền đến chúng sinh
Mẫu khuyên, Mẫu dạy tỏ tình
Để cho con trẻ chúng sinh biết đường
Kinh này truyền khắp mười phương
Thập kinh Tam bảo chín phương độ trì
Làm người cần nhất lương tri
Có nghĩa, có nghì trung hiếu mẹ cha
Kính trên nhường dưới thuận hòa
Cùng nhau xây dựng vinh hoa tỏ tường
Hương này thơm ngát mười phương
Con ơi hãy chọn con đường mà đi
Đừng như những kẻ vô tri
Giả vờ câm điếc làm gì nên thân
Có nghĩa thì mới có nhân
Cái nợ đồng lần không tránh được đâu
Thương con Mẫu nặng tâm sầu
Mong sao con trẻ tu mau lỗi lầm
Con ơi một nén hương trầm
Phật Trời chứng giám đâu cần mâm to
Thương con Mẫu mới dặn dò
Truyền kinh cứu khổ đến cho mọi người
Kinh này truyền khắp mọi nơi
Kinh của Phật Trời truyền cứu nhân dân
Hỡi chúng sinh khắp xa gần
Nghe kinh Mẫu dạy muôn phần gắng ghi
Bây giờ khánh hội kỳ thi
Các con cố gắng Mẫu thời chấm cho
Trên thiên đã có Phật Trời
Dưới trần Thổ Địa chứng ghi lòng người
Ai mà ăn ở bất nhân
Thổ Công, Thần Táo tấu lên Thiên đình
Vậy nên con phải học kinh
Để cho biết được luật trời phép thiên
Dù ai ăn ở đảo điên
Con cứ thảo hiền Phật Mẫu chứng minh
Canh bốn thức dậy dâng kinh
Tam tòa Tứ phủ anh linh độ trì
Con ơi tu ở tại gia
Vẫn được Phật Bà chấm điểm dự thi
Cũng như khánh hội kỳ thi
Mẫu duyệt, Mẫu lại chấm bài cho con
Mẫu đã trao hẳn bút son
Thì con cố gắng cho lòng Mẫu vui
Bây giờ lọc của, lọc người
Mẫu chọn một người truyền bút giáng kinh
Không phải kinh học một mình
Mà kinh truyền đến chúng sinh muôn loài
Kinh ứng tâm Mẫu đã cho phép
Cứ truyền đi không phải ngại ngần
Con ơi cầm mực nẩy cân
Nếu con ngại ngần kinh lại tồn kho
Sớ kia có hóa thành tro
Sớ vẫn bay đến tận tay Ngọc Hoàng
Kinh kia Mẫu đã duyệt xong
Truyền đi cho khắp mới hòng phúc lai
Thương con Mẫu mới sang tai
Con muốn thành tài làm đúng lời khuyên
Đây là Đức Mẫu Thượng Thiên
Dáng kinh cứu khổ xuống miền trần gian
Hương thơm tấu tới tòa vàng
Cho nên Đức Mẫu chứa chan lệ đầy
Thương con Mẫu giáng về đây
Trao kinh cứu khổ tận tay con trần
Một là con phải ăn năn
Chuộc hết lỗi lầm từ trước đến nay
Sau này thoát cảnh đọa đày
Mấy tầng địa ngục ai thay cho mình
Phụ nữ không được ái tình
Bất lương, bất chính là mình nhuốc nhơ
Đàn ông không được phụ tình
Chữ “Hiếu” tôn thờ nhiều nhất trong tâm
Chữ “Nhân” nhắc lại nhiều lần
Con phải ân cần không được làm sai
Chữ “Phúc” cùng với chữ “Lai”
Hai chữ cộng lại ai ai cũng cần
Chữ “Nhục” là chữ lỗi lầm
Con ơi xa lánh muôn phần được khen
Con hãy tôn kính tòa sen
Là con ghi nhớ kinh này trong tâm
Phật Bà Bồ Tát soi tâm
Là hết lỗi lầm từ trước đến nay
Con ơi kinh sách đêm ngày
Bút son Mẫu đã trao tay con cầm
Bầu trời có mấy vì sao
Bút son bao chữ Mẫu đà cho con
Rồi đây mọi việc vuông tròn
Truyền kinh cứu khổ Mẫu cho mở đường
Dù cho muôn dặm đường trường
Hào quàng sáng tỏ ngỏ đường con đi
Bây giờ khánh hội kỳ thi
Các con cố gắng được ghi sổ vàng
Thương con giọt lệ chứa chan
Mẫu phải tìm đường giải thoát cho con
Mẫu nay ở chốn lầu son
Nhưng Mẫu sáng suốt những con ở trần
Con nào khổ ải trầm luân
Con nào bất nghĩa, bất nhân Mẫu tường
Mẫu thương Mẫu sẽ mở đường
Dù con có vội dặm đường đâu thông
Đời người như một dòng sông
Lúc trong, lúc đục, lúc vơi, lúc đầy
Các con tụng niệm đêm ngày
Để cho xả hết đắng cay nỗi niềm
Tấu lên Đức Mẫu chép biên
Nay Mẫu giáng xuống nơi miền trần gian
Chọn người tâm ngọc lòng vàng
Lòng tin Mẫu gửi bút son tay cầm
Con ơi một nén hương trầm
Không cần nghi lễ đầy mâm đâu mà
Tấu lên đền Mẹ, phủ Cha
Tấu lên Phật bà Bồ Tát Quan Âm
Để cho xá hết lỗi lầm
Con sớm tu hành khỏi lỗi trầm luân
Sau này có phúc có phần
Rồi con sẽ được mười phân vẹn mười
Mẫu cho hoa lá tốt tươi
Rồi con rạng nở nụ cười như hoa
Bao nhiêu nạn khỏi tai qua
Không còn giọt lệ nhạt nhòa trần gian
Các con tấm ngọc lòng vàng
Để cho Đức Mẫu bình an tấm lòng
Thương con Mẫu giảng đôi dòng
Truyền kinh cứu khổ để lòng Mẫu yên
Van xin tấu tới Thượng Thiên
Động lòng thương của Vua Cha Ngọc Hoàng
Độ cho con trẻ bình an
Mẫu sẽ tìm đường cứu khổ cho con
Tuy Mẫu ở chốn lầu son
Lòng Mẫu héo mòn vì bởi chúng sinh
Vậy nên con phải học kinh
Luyện tâm tu tỉnh để mà được tha
Thứ nhất kinh của Chúa Ba
Thứ hai kinh Mẫu, kinh Cha phải tường
Học kinh là lệ sự thường
Học rồi phải luyện, phải rèn theo kinh
Không phải luyện chỉ một mình
Mà con phải luyện những người xung quanh
Chim khôn đâu tụ một cành
Người khôn đâu lỡ bỏ anh một mình
Mẫu thương muôn vạn chúng sinh
Mẫu muốn quây quần sum họp bên nhau
Học kinh phải thuộc làu làu
Ngày mai sum họp cùng nhau ăn làm
Thứ nhất quên hẳn lòng tham
Thứ hai trung hiếu, ba là nghĩa nhân
Thứ tư kế nghĩa tri ân
Phải nhất một lòng không được đổi thay
Thứ năm tính nết thẳng ngay
Dù có vận hạn cũng không thay lòng
Thứ sáu hàng xóm xung quanh
Cùng nhau giúp đỡ dưới trên khiêm nhường
Thứ bảy con phải biết thương
Những người đói rách, những người bơ vơ
Những người ốm dắt trẻ thơ
Con ơi bớt chút lương tâm cho người
Thứ tám con chớ có cười
Những người điên dại, những người lầm than
Chín là phải biết họ hàng
Cùng chung một giọt máu đào mà ra
Mười là ăn nói thật thà
Chính chuyên trọn đạo, tránh xa ái tình
Những ngày Đông chí, Thanh minh
Một nén hương trầm thắp chốn nghĩa trang
Để cho bày tỏ tấm lòng
Trách nhiệm người trần đối với người âm
Dù cho nghi lễ đầy mâm
Sắp ra rồi lại đầy mâm mang về
Thương con Mẫu dạy mọi bề
Mong sao con trẻ bốn bề thuận vui
Mẫu thương giọt lệ đầy vơi
Con ơi ghi nhớ những lời Mẫu khuyên
Đây là Đức Mẫu Thượng Thiên
Truyền kinh cứu khổ khắp miền xa xa
Mẫu về tấu với Phật Bà
Xin cho con được hải hà tấm thân
Rồi đây quả đất xoay vần
Cái nợ đồng lần con phải tu mau
Dù cho cách mấy nhịp cầu
Con đừng quản ngại, kiếp sau con mừng
Mặt trời còn mọc phương Đông
Cái nợ đồng lần không tránh khỏi đâu
Thương con Mẫu nặng tâm sầu
Con ơi ghi nhớ những lời Mẫu truyền
Mẫu đây giáng khắp mọi miền
Hương thơm Mẫu gửi bút tiên tay cầm
Con ơi chuộc hết lỗi lầm
Bao đời, bao kiếp lỗi lầm từ xưa
Dù có dãi nắng dầm mưa
Trời không cho phép chẳng thừa đâu con
Để cho lòng dạ héo hon
Bao ngày, bao tháng vẫn còn lo âu
Dù cho mấy dặm sông sâu
Con cũng cố gắng truyền mau kinh này
Hoa thơm chỉ có một ngày
Văn thơm để lại kiếp sau vẫn còn
Dù cho sông cạn đá mòn
Lời văn muôn kiếp vẫn còn được ghi
Con ơi mau truyền kinh đi
Đức Mẫu độ trì con được bình an
Trên thiên lệ Mẫu tuôn trào
Vì thương con dại hai hàng lệ rơi
Bút son Mẫu đã trao rồi
Con ơi bớt chút nghỉ ngơi Mẫu nhờ
Để Mẫu giáng mấy vần thơ
Các con tôn thờ đừng có lãng quên
Chữ “Tình”, chữ “Hiếu” đè lên
Hai vai gánh nặng lên con héo mòn
Một tay con cầm bút son
Một tay con vẫn phải còn hiếu trung
Lòng con nôn nóng như nung
Làm sao cho được vẹn toàn cả hai
Thức đêm mới biết đêm dài
Nằm trong cảnh ấy biết ai đau lòng
Thương con giọt lệ ròng ròng
Rồi đây Đức Mẫu sẽ giành phần cho
Lộc trời như nước biển Đông
Chỉ sợ đói lòng con chẳng muốn xin
Ba tòa Thánh Mẫu vạn linh
Lỡ để con mình sống cảnh đau thương
Con ơi muôn dặm đường trường
Mẫu phải tìm đường cứu khổ cho con
Dù ở cung cấm, lầu son
Mẫu vẫn nhìn thấy những con ở trần
Những khi mưa bão ầm ầm
Biển dâng nước lớn sóng thần con ơi
Thương con giọt lệ tuôn rơi
Con ở hạ giới con thời biết không
Mẫu sợ con trẻ đói lòng
Sông sâu nước lớn theo dòng cuốn đi
Mẫu thương, Mẫu vẫn độ trì
Nhưng mà mưa bão định kỳ không sai
Dặm đường con vẫn còn dài
Con ơi cố gắng tu mau sớm chiều
Thương con Mẫu dạy mọi điều
Để con biết được ít nhiều mà tu
Mẫu là làn gió vi vu
Thổi cho con mát những khi trưa hè
Mẫu là chiếc áo chở che
Mỗi khi đông giá ở ngay bên mình
Mẫu là tòa sáng Thiên đình
Để Mẫu thắp sáng quang minh soi đường
Mẫu là tiếng hát yêu thương
Ru cho con ngủ đêm trường canh thâu
Mẫu là muôn vạn nhịp cầu
Mẫu cho con bước sông sâu đêm ngày
Mẫu là liều thuốc thật hay
Để cho con uống những ngày ốm đau
Mẫu là chiếc nhẫn vàng thau
Tô thêm vẻ đẹp bao ngày con mong
Mẫu là ánh sáng đêm rằm
Để cho đôi trẻ thong dong trên đường
Mẫu là chiếc nón yêu thương
Chở che dãi nắng dầm sương trên đầu
Muốn cho hạnh phúc bên nhau
Đọc kinh cứu khổ thảm sầu vơi đi
Dù cho gian khó hiểm nguy
Đọc kinh cứu khổ bước đi nhẹ nhàng
Dù cho dòng lệ chứa chan
Đọc kinh cứu khổ an khang thuận hòa
Phật cho hưởng phúc hà sa
Con ơi ghi nhớ kinh này trong tâm
Hỡi chúng sinh khắp xa gần
Thương con Mẫu gửi tấm lòng bay đi
Bây giờ khánh hội kỳ thi
Các con cố gắng vậy thì Mẫu thương
Dù cho cách trở trăm đường
Con phải tìm cách để mà truyền kinh
Đêm khuya vắng vẻ một mình
Mẫu về truyền bút giáng kinh con hiền
Mẫu đây ở chốn Thượng Thiên
Vì thương con hiền Mẫu mới về đây
Bởi vì con trẻ thơ ngây
Nên chưa hiểu hết Mẫu đây tâm phiền
Giờ đây kinh Mẫu dạy truyền
Con hiền thức trắng bút thiên tay cầm
Lòng son giấy trắng mực hồng
Để cho Mẫu giáng mấy dòng kinh thiên
Hương thơm một nén tâu lên
Con quỳ, con tấu, con cầu, con xin
Xin Cha, xin Mẹ Thiên đình
Các tòa các cấp Thiên Âm độ trì
Bởi con trót dại ngu si
Con xin các cấp muôn phần xá cho
Con xin được chữ “ấm no”
Con xin phúc thọ cho thì mẫu thân
Con xin gia trạch bình an
Con xin ún nhỏ học hành thông minh
Bởi con lầm lỗi nhiều lần
Con xin Phật Tổ muôn phần xót thương
Bởi vì con trẻ nhầm đường
Đói cơm rách áo dầm sương cõi trần
Vậy nên mới mắc lỗi lầm
Con xin Đức Phật muôn phần xá cho
Cơm cha con vẫn chưa no
Áo mẹ chưa đủ Mẫu cho con nhờ
Mẫu thương con trẻ dại khờ
Lỗi lầm Mẫu xá, lộc hồng Mẫu ban
Từ nay con đổi tính xưa
Con xin ghi nhớ dòng kinh Mẫu truyền
Mẫu nay ở chốn Thượng thiên
Thương con lệ nhỏ xuống miền trần gian
Rưng rưng lệ nhỏ hai hàng
Mẫu về quỳ tấu Phật Bà Quan Âm
Xin cho xá hết lỗi lầm
Để cho thoát khỏi trầm luân ở đời
Mẫu khuyên con trẻ mấy lời
Con hãy nhớ lấy những lời thơ kinh
Giúp ai con phải nhiệt tình
Đừng dắt giữa dòng con lại đánh rơi
Con vứt họ ở giữa vời
Lênh đênh biển lớn biết thời nhờ ai
Con muốn có phúc, có tài
Giúp họ thành tài con mới an tâm
Nuôi con đủ cánh, đủ lông
Biết bay, biết chạy, biết công mẹ hiền
Đừng như những kẻ tham tiền
Giàu thì vàng ngọc, nghèo thì cỏ cây
Thương con Mẫu giáng về đây
Dạy cho biết nhẽ, tan mây Mẫu về
Vợ chồng hết nghĩa phu thê
Răng long, tóc bạc lối về đừng quên
Giữ cho tình cảm vững bền
Trăm năm kết tóc đến khi suối vàng
Dù cho vận hạn cơ hàn
Cùng nhau đùm bọc đừng mà quên nhau
Đến khi có ốm có đau
Ta cùng chăm sóc với nhau tận tình
Trung thành giữ dạ thủy chung
Không được thay lòng đổi dạ con ơi
Ái tình bất chính nợ đời
Chết xuống âm phủ về nơi đọa đày
Dù cho kinh sách đêm ngày
Một phút bất nghĩa phúc lai đâu còn
Thà rằng mù mịt tối tăm
Ngu si dốt nát Phật Trời xá cho
Ăn cơm con phải biết no
Đọc kinh con phải đắn đo cho tường
Đọc kinh là lệ sự thường
Đọc rồi phải biết kỷ cương thế nào
Không phải học lấy phong trào
Học rồi chẳng biết thế nào là kinh
Uổng công Đức Mẫu giáng linh
Con trẻ một mình ngồi viết đêm khuya
Con ơi cố gắng miệt mài
Ngày nay kinh sách, ngày mai cơm vàng
Rồi Mẫu sẽ khoác tấm màn
Cho con nhìn thấy bao la chân trời
Dù cho giọt lệ có rơi
Cũng không uổng phí cuộc đời con đâu
Bàn tay đã cầm bút son
Cọp beo chẳng sợ, sóng thần chẳng kinh
Đức Mẫu nay đã giáng linh
Ở trên cây bút anh linh đêm ngày
Bút con đã có cầm tay
Đêm ngày kinh sách Mẫu dầy dạy cho
Dù con cách mấy chuyến đò
Đọc xong con phải chuyển cho bạn mình
Đèn Mẫu soi sáng lung linh
Để cho con trẻ mang kinh đi truyền
Con truyền cho khắp mọi miền
Năm châu, bốn bể ở miền trần gian
Bao nhiêu vận hạn cơ hàn
Truyền kinh đi khắp an khang thuận hòa
Mẫu về tấu với Phật Bà
Cho con được hưởng phúc đà Như Lai
Thức đêm mới biết đêm dài
Tay con cầm bút miệt mài sớm khuya
Con ơi đãi cát lọc vàng
Cát kia trôi hết vàng còn trên tay
Công con kinh sách đêm ngày
Cũng như vàng ấy trên tay con cầm
Cũng như một vỉ hương trầm
Đốt xong tro vẫn còn mùi trầm hương
Con ơi dãi nắng dầm sương
Dù cho sương có vấn vương trên đầu
Con ơi cố chịu đừng sầu
Rồi con sẽ được một mầu tốt tươi
Dạy con hết lẽ con ơi
Các con ở lại mà ngồi học kinh
Mẫu phải về chốn Thiên đình
Lo cho muôn vạn chúng sinh trên tòa
Bao nhiêu dòng sớ thiên hoa
Tấu lên tới cửa Tam tòa Thượng thiên
Vậy nên Mẫu phải về thiên
Để Mẫu xét duyệt chấm bài dự thi
Duyệt rồi sớ mới được ghi
Con nào có đức được ghi sổ vàng
Các con ở cõi trần gian
Tu nhân tích đức sớm nhanh thành người./.
Đêm 06 tháng 03 năm 2006
Xuân Bính
Tuất
ĐỨC MẪU GIÁNG LINH
* Để xem tiếp các quyển khác quý vị vào
phần liên kết ở dưới ạ:
* Link phần sách đủ bộ :
https://drive.google.com/drive/folders/1FOQtAkgNxLRYoTEnj4jD2PaEnqVnNM8b
* Link phần Kinh nghe ở youtube:
https://www.youtube.com/channel/UCzv_9g9owBPCs4loB61A0Jw
---------------------
Thánh Phật Tiên đều ngự trong tâm mình, Tâm
mình lành thì sẽ được chiêu cảm Thánh Thần Tiên Phật. Còn Tâm mình hung dữ phạm
ác sẽ chiêu cảm ma vương, tà ác sẽ không tốt cho mình và mọi người. Thân mến.
Nhân: Lòng thương người vạn vật, bác aí, vị
tha.
Lễ: Sự nhu mì, nhẹ nhành thanh tịnh tôn
trọng tất cả mọi người, mong cho mọi người tiến hóa.
Nghĩa: Sự đền đáp ân đức đối với Thánh Thần
Tiên Phật và tất cả muôn loài: Tri ân tất báo. Tri Nghĩa tất làm. Làm ơn cho
trọn, Trả Nghĩa cho đầy. Người đã có ơn với mình thì hãy cố tìm cách báo đáp 1
cách thông minh cho họ được giải thoát.
Trí: sự thông minh thấu hiểu, dùng mọi
phương tiện dắt dìu nâng đỡ.
Tín: Sự chân thật, hiền hòa trong tâm hồn,
không nặng nề trong lời nói. Không Thất Tín.
Công: Quán xuyến và chăm sóc quản lý cho
tròn trịa trong khả năng có thể, bằng tình thương và trí huệ của mình.
Dung: Sự dung dưỡng bằng phương tiện nhẹ
nhàng hóa độ mọi sinh vật, của các Thánh Mẫu ík.
Ngôn: Lòng từ thể hiện trong sự nhẹ nhàng
khôn khéo và phương tiện trong lời nói sử dụng trí huệ để hóa độ muôn loài.
Hạnh: Đức độ, giới hạnh thanh tĩnh nhẹ
nhàng như các vị Kim Tiên tâm lúc nào cũng ở trong chánh định. Đạo đức cao dầy,
không nghĩ đến việc vi phạm giới luật của Bồ Tát.
Ít dòng Thân Ái.
-----------------------
10 điều khuyến tu của Đức Thầy
Điều thứ nhất, Thầy khuyên nên nhớ
Lòng trung kiên muôn thuở con nên
Dầu ai nặng nhẹ trăm điều
Quyết không bỏ ý cao siêu của Thầy.
Nhiều thử thách đang vây con đó,
Chớ nản lòng công khó tiêu tan
Việc chi còn ở trần gian
Là điều huyễn hoặc chớ mang vào lòng.
Điều thứ hai, Thầy mong đệ tử
Tình bạn bè phải giữ thủy chung
Luôn luôn tha thứ khoan dung
Nhủ khuyên nhỏ nhẹ, chớ dùng lời thô
Dìu dẫn nhau điểm tô công quả
Phải thật thà tất cả chung quanh
Thiệt thòi cam chịu đã đành
Vô vi phẩm hạnh Thầy dành cho con.
Điều thứ ba, vẹn toàn hạnh đức
Tuy bán buôn cơ cực tảo tần
Đổi công nuôi lấy tấm thân
Đừng ham nên chuyện phi nhân gạt lường
Dẫu tiền bạc đầy rương tràn tủ
Cuộc trần này chưa đủ nghe con
Thánh nhân cũng chỉ một lời
Thà nghèo trong sạch thảnh thơi linh hồn.
Điều thứ tư, pháp môn quy luật
Dùng rau tương cố sức trau dồi
Thịt thà xương máu tanh hôi
Cỏ cây rau cải cũng rồi bữa ăn
Đức từ bi lòng hằng thể hiện
Không sát sanh lòng thiện ta còn
Lạt chay tuy chẳng ngọt ngon
Còn hơn thú vị cơm chan máu hồng.
Điều thứ năm, quyết không hờn giận
Ghét ganh chi cho bận lòng mình
Con xem vạn quyển Thiên kinh
Hiền nhân quân tử rộng tình vô câu
Muôn việc xảy bắt đầu sân nộ
Là nguyên nhân thống khổ ly tan
Chơn truyền Pháp Chánh Đạo Vàng
Tập xong chữ “Nhẫn” Niết Bàn không xa.
Điều thứ sáu, thiết tha Thầy dặn
Ngày hai thời lẳng lặng công phu
Việc chi dầu quá cần cù
Cũng nhơn vài khắc tập tu nguyện cầu
Khi việc rảnh đồng sâu chợ búa
Đem sẵn kinh tự của Thầy ban
Học cho thông thuộc đôi hàng
Ngâm nga trong lúc thanh nhàn băn khoăn.
Điều thứ bảy, quyết tăng công quả
An ủi người già cả ốm đau
Tùy duyên có thể giúp vào
Lâm cơn hoạn nạn khi nào cần con
Phước đức ấy để còn muôn thuở
Tuy vô hình đừng ngỡ rằng không
Con ơi! Trong cõi hồng trần
Mấy ai nghĩ đặng cõi lòng thanh cao.
Điều thứ tám, lời nào Thầy dạy
Dầu khó khăn chớ ngại công trình
Biết rằng con đã hy sinh
Phật Tiên đâu nỡ quên tình hay sao
Đừng chấp việc núi cao rừng thẳm
Hay là đường muôn dặm xa xăm
Nếu con thề quyết một lòng
Đương nhiên đắc đạo thoát vòng tử sanh.
Điều thứ chín, Đạo lành cơ bản
Giữ làm sao có bạn không thù
Từ nay con nhớ rằng “TU”
Hạ mình nhận lỗi mặc dù mà không
Lời nói ra hòa trong hiệp ngoại
Đừng hơn người nên phải ép lòng
Đừng ham những chuyện mênh mông
Vừa no đủ ấm đèo bồng mà chi.
Điều chót hết, mười ghi trăm nhớ
Phật, Thánh, Tiên con chớ quên ơn
Gia đình nghĩa trọng nhiều hơn
Tình thương xã hội giúp cơn thiết cần
Ăn ở trên dành phần con cháu
Nhớ những lời dạy bảo Thầy mong
Con ơi! Hãy gắng ghi lòng
Bao nhiêu tâm huyết mấy dòng thi văn.
------------------------
Bài giáng cơ bút của Thánh Mẫu
Vân Hương Thánh Mẫu
Sắc Dậy Quần Sanh
Mẹ khuyên con, con phải làm lành
Để tránh thoát trăm vành tai nạn
Thương con Mẹ phán, con phải nên nghe
Cơn hiểm nguy trời đát chở che
Khi hoạn nạn Phật Thần ủng hộ
Lưu truyền thiên cổ: thiện giả thiện lai
Giữa trần ai ai cũng như ai
Chia giai cấp vì tài vì đức
Không nên đổ tật, chớ có sầu bi
Cuộc phù sinh nào có khác gì
Ai thoát khỏi hoạt qui vân tán ?
Giàu trăm ngàn vạn, chết khó đem đi
Duy thiện can ác quả tương tuỳ
Con nên phải nghĩ suy cho kĩ
Thị phi, phi thị: gian trá, trá gian
Của bất lương của ấy đừng tham
Điều phi nghĩa điều kia chớ học
Nợ duyên tơ tóc, tình nghĩa xương da
Lo báo đền công đức mẹ cha
Phải trọn vẹn tình ân nghĩa ái
Dại khôn, khôn dại: hư thiệt, thiệt hư
Đức cù lao lòng dữ khư khư
Tình vàng đá thường lo đau đáu
Trong đời gì báu bằng nghĩa với tình
Giữ vẹn tuyền quỷ sợ thần kinh
Lo đầy đủ trời bênh đất đỡ
Trong nhà ngoài chợ, cử chỉ đoan trang
Cuộc giao du nên tránh người gian
Khi bàn luận nên bàn việc thiện
Không nên bày chuyện chớ khá thêm lời
Sợ vì ta lá rụng hoa rơi
Hoặc từ đó, nhà tan cửa hại
Con nên nghĩ lại, ai cũng như mình
Việc của người chớ phách đừng banh
Con tự xét lấy mình con trước
Gặp ai lỡ bước, con chớ khinh khi
Cuộc vần xoay giữ thế chắc gì
Bần giữ phú khác gì dán tịch !
Những lời công kích câu nói mỉa mai
Con không ưa chớ có nói ai
Con ưng trách thì người cũng trách
Con nên tu tỉnh cười nói lựa lời
Khi toại đàm chớ có nói chơi
Rủi thiệt hại cho người trong cuộc
Nghìn vàng khó chuộc, lời đã lỡ lời
Mẹ khuyên con suy nghĩ đến nơi
Đừng tự phụ có tài có đức
Chinh Nam, phạt Bắc: Hạng võ anh hùng
Khi hết thời trở lại Giang Đông
Đem thủ cấp dâng ông đình trưởng
Không nên tơ tưởng phú quý phù vân
Giàu Thạch Sùng tiếng nổi xa gần
Khi vận hết cơ cầu dói khổ
Tục truyền tỏ rõ: duy hiếu là hơn
Vua Thuấn xưa cày núi Lịch Sơn
Vì tận hiếu mà hơn thiên hạ
Nàng Ban Ả Tạ: tiết rạng nghìn thu
Bà Chiêu Quân vì Hán cống Hồ
Tình chăn gối hằng lo đầy đủ
Quỷ thần ủng hộ, tiên thánh phù trì
Ở Hồ lâu mà chẳng can gì
Được tiết rạng, hồn qui cố thổ
Sử xanh chép rõ: Phiếu Mẫu ngày xưa
Giúp Hàn gia một bữa cơm trưa
Sau Hàn tương đền ơn muôn lạng
Hết tình vì bạn: Dương Lễ, Lưu Bình
Thấy bạn nghèo con chớ nên khinh
Bạn đói rách ấy mình đói rách
Rèn lòng thanh bạch, giữ đạo hiền lương
Con khỏi lo quỷ mị vấn vương
Cũng không sợ tà ma gây hại
Gái trai, trai gái, già trẻ nên nghe
Lời khuyên người: Thánh Mẫu châu phê
Rủi làm hại trời che đát đỡ
Nghe lời nên nhớ - nhớ phải nên theo
Thời khỏi lo phận đói kiếp nghèo
Thuyền tế độ mẹ sẵn đưa chèo trăm họ
------------------------
DƯỚI BÓNG CỘI TÙNG (ĐỨC PHẬT TRÙM)
Dưới địa trên thiên Lão tỏ bày
Bóng tùng lộ vẻ kể từ nay
Cõi trên chín cõi mười phương định
Khùng chuyển xuống trần mở lập khai.
Bầu trời rộng lớn vô biên
Hồi chưa mở địa Phật Tiên hội rày
Tại cung Bạch Ngọc (1) xưa nay
Trên thấy chư Phật đến ngay hội bàn
Định khai mở cõi trần gian
Thế Tôn (2) chỉ định rõ ràng Hồng Quân (3).
Hồng Quân lo lắng bâng khuâng
Nếu khai phải lập, phải phân sau nầy
Hồng Quân tính lại như vầy:
Thấy rằng Lão Tử (4) phước dầy đức cao
Sắc truyền Lão Tử mau mau
Khai thiên mở địa chứ nào nghỉ ngơi
Thiên sanh ư Tý vậy thời
Địa tịch ư Sửu vậy thời chẳng sai
Nhơn sanh ư Dần bằng nay (5),
Đầu ngươn Giáp Tý phân rày Lưỡng Nghi
Kế phân Tứ Tượng vậy thì
Rồi phân Bát Quái (6) đúng y đó là,
Ngũ Hành (7) rồi cũng phân ra
Tam Hoàng (8) mở địa cùng là nhơn thiên
Ấy là Tam Tổ đầu tiên:
Phục Hy kế mở hạ miền phân ra
Bốn mùa tám tiết đó mà,
Thần Nông Ngài cũng phân ra các loài
Trái cây, thuốc để ngày nay,
Huỳnh Đế ra đứng lập khai ngôi Trời.
Có vua có chúa trị đời
Vua Nghiêu (9) trị quốc khắp nơi an nhàn
Chúa Thuấn (9) kế vị ngai vàng
Đức lành ban rải bình an lâu dài
Ấy là Ngũ Đế (10) phân rày
Cho đời rõ biết Thượng lai (11) đứng đầu.
Lão đây luân chuyển dãi dầu
Xuống trần nhiều bận chớ đâu một lần
Trung Ngươn hồi thuở Phong Thần
Thuận cơ thiên định xuống trần giúp Châu
(12)
Lúc nào Lão lại yên đâu
Chuyển luân tái lại đạo mầu chánh hưng
Ngàn năm Ta cũng nhớ chừng
Ở bên Trung Quốc khoảng chừng đời Châu
Định Vương yên nhứt sai đâu
Ở tỉnh Hồ Quảng, Lão âu ra đời
Rằm tháng hai trăng sáng trời
Lý Nhĩ danh Lão ai ơi có tường
Viết Kinh truyền khắp bốn phương
Tự tin đạo đức ai tường thì truy
Mặc tình ai có tôn ti
Ta đây chuyển kiếp mấy kỳ khuyến tu
Thấy đời sao quá âm u
Dốc lòng dắt chúng ngục tù thoát qua
Ngươn tàn biến chuyển phong ba
Âm dương lộn đảo thiết tha cho đời
Phu thê phụ tử rã rời
Lão đây thương xót kêu mời bớ ai.
Hạ Ngươn này Lão tái lai
Phật Trời chuyển Lão định ngay Nam Kỳ (13)
Phương Nam có mở hội thi
Chọn người trung hiếu phò vì Minh Vương
Tu sao được dựa tòa chương
Tu sao rõ biết Kỳ Hương (14) mới là
Lão đây thiết lập Long Hoa (15)
Gần ngày đâu phải còn xa nằm ình
Lão đây xuất hiện thình lình
Nhắn cùng bổn đạo sửa mình cho trơn.
Năm xưa Ta ở Thất Sơn (16)
Phật Trời lấy hiệu Bửu Sơn (17) giáo truyền
Môn đồ có Thập Nhị Hiền
Tây An (18) đáo hậu có tiền Lão đây.
Xác Trùm (19) cũng Lão chuyển xoay
Tà Lơn (20) xuất hiện độ rày chúng sanh
Hiệu Trùm ai cũng nghe danh
Trùm đây cũng lắm sỏi sành gian truân
Nhắc tới nước mắt rưng rưng
Bị Tây nó bắt hành thân mấy lần
Bỏ vào cũi sắt đem quăng
Ba ngày thăm thử sống nhăn như thường
Lính cò tính thiệt bất lương
Chảo đồng nướng đỏ phải thường ở đâu
Bắt Trùm phải đội lên đầu
Nhưng không hề hớn chi đâu xác Trùm
Đứa thì chủi mắng um sùm
Đứa thì lại sợ xin Trùm thứ tha
Bữa nọ át xít đem ra
Đưa Trùm uống hết xác mà bỏ thêm
Như vầy còn nữa chưa êm
Đây Trùm ra đảo ngày đêm mịt mù
Giữ heo như các người tù
Heo Trùm sáng thả chiều bu về chuồng
Đày Trùm chúng thất sợ luôn
Phật còn mắc nạn ai suông đặng nào
Tu hành lận đận lao đao
Chập chồng tai nạn chớ xao nản lòng
Lão đây nhìn khắp cõi hồng
Chuyển xoay tái lại trong vòng Thất Sơn
Bổn Sư (21) cũng Lão chuyển thân
Lưu truyền kinh sử chấn hưng đạo mầu
Hiếu Nghĩa nào khác ở đâu
Trong vòng Sơn Bửu lý mầu Kỳ Hương (22).
Thân già nhiều nỗi đoạn trường
Hiện kiếp Sư Vãi (23) vì thương thế trần
Chèo lên chèo xuống mấy lần
Con sông Vĩnh Tế ai hòng biết Ta
Bắp khoai rao khắp gần xa
Khuyên dân tu niệm bớt mà tham gian
Hùng cường bạo ác đâu an
Không tu tai họa trách than đâu nào
Truyền kinh Sư Vãi mau mau
Kết thành một bổn để trao cho đời
Lão đây nào có an nơi
Long Hoa sắp mở nghỉ ngơi dễ gì.
Thân già còn phải bôn phi
Vì thương trăm họ vân vi khắp cùng
Lão đây lãnh ấn Thiên Cung
Hai vai gánh nặng vô cùng âu lo
Năm Mèo cũng thuận gió đò
Lão đây được lệnh hát hò khuyên dân
Họ Huỳnh (24), Lão chuyển xác thân
Đạo lành truyền bá độ trần thoát mê
Chèo thuyền rước khách đưa về
Lánh xa bể tục dựa kề Bồng Lai
Cả kêu già trẻ gái trai
Sửa trau tánh hạnh học bài Quy Y.
Phật Thầy, Phật Tổ Mâu Ni
Thượng Đẳng với thì Chư Vị Trăm Quan
Các Ngài xuống thế sửa sang
Sắp tuồng sắp lớp sắp màn kỳ ba
Xác trần chuyển khắp gần xa
Quy y phải biết mới là thiện duyên
Thi văn phải có lời truyền
Pháp mầu vi diệu cơ huyền rán tri
Nếu dở ắt trễ kỳ thi
Lão đây trở lại giống y họ Huỳnh
Xác trần Lão chuyển năm Thìn
Nào ai biết được cứ kình với Ta
Lão về kịp đúng kỳ ba
Gia trung trở lại Long Hoa vén màn
Hồi xưa Ta ở Nam Vang
Long Xuyên, Châu Đốc rồi sang Sài Thành
Miền Trung cũng có người lành
Hậu Giang kỳ chót phân rành thứ ngôi
Nếu ai biết được làm tôi
Gái trai đừng có bỏ trôi mối giềng
Câu rằng lập hội quy tiền
Dòng sông Cửu Khúc Phật Tiên ra đời
Huỳnh khai để lại mấy mấy lời
Long Lân Quy Phụng là nơi bóng tùng
Chúa tôi tương ngộ trùng phùng
Bá gia rõ biết Lão Khùng là ai
Mãi chờ thiên định ra oai
Tuồng đời diễn biến nay mai bây giờ
Đừng thấy như vậy thờ ơ
Cơ trời chỉ định một giờ thì xong
Cả kêu nam nữ Tây, Đông
Chung quy thống nhất chờ Ông tuổi Mùi
Khôn đoài xuất hiện an vui
Thất Sơn lộ vẻ Trà Cui tiếng đồn
Xuồng ghe lui tới dập dồn
Linh căn quy tụ hương thôn đủ đầy
Lão kêu tất cả trí tài
Văn ôn võ luyện chờ ngày ứng khoa
Lão đây sức yếu tuổi già
Tam thiên đồ đệ gần xa mau về
Ngày xưa cũng có nguyện thề
Hứa gần chuyển thế trọn bề chánh trung
Lão nay lập lại cội tùng
Phủ che cho kẻ đắc cùng với Ta
Mong ngày họp mặt Trào Ca
Quân thần phụ tử một nhà đoàn viên
Chừng ấy Lão mới phỉ nguyền
Cùng nhau hát khúc thiêng liêng khải hoàn
Lão đây tuổi cũng trên ngàn
Lưng còm gối mỏi chưa an trong lòng
Râu dài tóc trắng như bông
Từ bên Trung Quốc đi vòng vô Nam
Nhứt huê di tích núi Sam
Sanh ra ngũ diệp khổ kham bao này
Vì chúng nên Phật bị đày
Xuống trần nhiều nỗi đắng cay cam đành
Chông gai rừng rú sỏi sành
Quyết lòng phá dọn xây thành Thượng Ngươn
Âu rằng sấm nổ Thất Sơn
Lý cơ khai mở thiệt hơn kỳ này
Chữ Sơn hiệu của Phật Thầy
Vị Tổ thứ bảy kỳ này phải không
Cột đồng vốn thiệt họ đồng
Chữ minh vốn thiệt danh Ông sáng lòa
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. .
Minh châu có phải đó là hay không
Huỳnh khai còn nói viễn vông
Thời cơ chưa đến nên Ông bặt hình
Mặc tình bổn đạo chống kình
Cứ tu theo lối hữu hình bỏ Ông
Lão đây dụng cái chơn không (25)
Đi theo Lục Tổ ai hòng tưởng đâu!
Ta về đúng lúc canh thâu
Cơn sầu mượn lấy cầu câu giải sầu
Chừng nào Mã vĩ hồi đầu
Hai trâu xuất hiện Ông hầu mới ra
Lúc thời nói chuyện xa xa
Có khi lại nói sát mà bên lưng
Thương trần nói mãi chẳng ngừng
Thấy trong bổn đạo nửa mừng nửa lo
Mừng là Thầy gặp được trò
Trung Thầy hiếu đạo biết lo đắp bồi
Mừng cho con có vị ngôi
Mừng con giữ trọn phận tôi sau này
Lo là lo kẻ phụ Thầy
Thầy về không biết không hay nằm chờ
Lo cho ngày hội bơ vơ
Công danh chẳng có bến bờ cũng không
Bấy lâu nói chuyện mênh mông
Từ rày nói chuyện trong vòng kỷ nguyên
Ai ai cũng có căn tiền
Tìm Thầy gieo lấy thiện duyên tu hành
Không Thầy chỉ dạy sau rành
Tu đâu có được đắc thành Phật Tiên
Ai ơi trở lại mối giềng
Bửu Sơn ký nhận tu hiền thành công
Minh Hoàng tỏa rạng nơi đông
Thất Sơn tỏa rạng Lão Ông ra đời
Cả kêu khắp hết nơi nơi
Tây Nam mở hội vậy thì xúm vô
Chị anh chú bác cậu cô
Quay về bến hậu đầy mô kịp kỳ
Cần Thơ có lập trường thi
Thi văn thi đức tài gì đem ra
Mười phương chư Phật cũng qua
Cộng đồng Tam cõi hội mà cung Khôn
Linh căn tất cả quy dồn
Phật Thầy với Đức Thế Tôn định phần
Muôn thu mới có một lần
Thiện nam tín nữ sửa thân cho tròn
Người tàn tu mót tu bòn
Mười ơn vẹn giữ đạo con mới là
Ơn vừa nợ nước nặng đa
Tình sư nghĩa đệ khắc mà trong xương
Phu thê tình nghĩa suy lường
Cân phân ổn thỏa kính nhường lẫn nhau
Bạn bè đoàn kết mới cao
Tử sanh sống thác bên nhau một đời
Ai mà ở đặng y lời
Đến ngày lập hội Phật Trời thưởng ban
Những người ăn ở nghinh ngang
Hỗn hào cha mẹ phù phàng chúa cha
Vong sư phản đạo đem ra
Lấy luật Tiêu Hà xử chẳng gớm tay
Đời này trung nghĩa mấy ai
Làm quan xây cất lầu đài thiên loa
Miễn sao mình được ấm no
Nước nghèo dân khổ đói no mặc tình
Nam mô luật nước chẳng gìn
Xử phân bất chánh dân tình khổ đau
Thấy đời lòng dạ ngán ngao
Con giết cha mẹ đớn đau thiếu gì
Thua loài cây cỏ vô tri
Trời đâu để kẻ nghịch thì mẹ cha
Hạ ngươn nhiều chuyện thiết tha
Vơ chồng chém giết lẫn mà với nhau
Kể chi nhơn loại đồng bào
Lòng người rối loạn mất màu nghĩa nhân
Văn minh học thức càng tăng
Càng gây nhiều sự khó khăn cho đời
Học nhiều chúng lại chê Trời
Chê Thần chê Thánh vậy thời chẳng linh
Văn minh trái lại vô minh
Học nhiều trái lại vô tình khinh khi
Không học mà biết mới hay
Đó là cái lý vô vo nhiệm mầu
Phật Thần không thấy mặc dầu
Xác trần quê dốt nào đâu biết gì
Ứng thân hiển hiện huyền vi
Thấy nghe biết hết chuyện gì trần gian
Lòng người khởi móng tính toan
Phật Ngài thấu hiểu rõ ràng không sai
Cả kêu già trẻ gái trai
Tu sao cho tạng mặt mày người xưa
Táhng ngày giữ dạ muối dưa
Bền lòng thiện niệm sớm trưa chớ sờn
Ta về khải lại bản đờn
Tử Kỳ có thấu Thất Sơn hẹn hò
Đờn kêu bớ hỡi là trò
Thuyền kề bến hậu hát hò dòng sông
Đờn kêu tìm kiếm Lão Ông
Lão Ông trở lại đất đồng Thuấn Nghiêu
Đờn kêu trò chớ đánh liều
Âm dương dấy loạn khó hầu thoát thân
Đờn kêu lập lại Phong Thần
Châu hưng diệt Trụ chọn dân lương hiền
Đờn kêu xao xuyến nào yên
Bàn môn dấy loạn tranh quyền Đế Vương
Đờn kêu Di Lặc Phật Vương
Diệt tà lập chánh hai đường chẳng sai
Đờn kêu chỉ hướng Tây đài
Có ông Bạch Sĩ hôm nay ra đời
Đờn kêu như réo như mời
Nam nhi chi chí tìm thời vua cha
Đờn kêu lập hội Long Hoa
Nam trung nữ liệt phò mà Đế Vương
Đờn kêu tùng bóng lố trương
Tập Bát chư quốc hùng cường hàng quy
Đờn kêu các Đấng huyền vi
Nghe lời Lão gọi đồng quy lãnh phần
Đờn kêu mau chuyển xác trần
Ra oai lập quốc một lần với Ta
Đờn kêu hè đến không xa
Non mòn biển cạn trâu qua cầy bừa
Đờn kêu một trận không vừa
Mặt trời lố mọc thớt thưa cáo cầy
Đờn kêu không kíp thì chầy
Đố làm sao khỏi muỗi bầy khỏi tan
Đờn kêu lập lại tuồng màn
Bửu Sơn sửa trị dân an quốc lành
Đờn kêu bá tánh tu hành
Tầm trong bốn chữ mới rành đường tu
Đờn kêu tháng tám mùa thu
Tùng Quân tỏa rạng sĩ nhu trổ tài
Đờn kêu không mốt thì mai
Tùng Quân định đặt một ngày thì xong
Đờn kêu Ta ở miền Đông
Tùng Quân chuyển lại dòng sông Phước Bình
Đờn kêu hết nhục tới vinh
Tùng Quân lai tái Trạng Trình xác đâu
Đờn kêu lộ vẻ Ông câu
Tùng Quân thiết lập nhà Châu đợi chờ
Đờn kêu sắp tới bây giờ
Tùng Quân chừng đó ai ngờ Lão Ông
Đờn kêu có trận cuồng phong
Tùng Quân nói trước tin không mặc tình
Đờn kêu tu sĩ sửa mình
Tùng Quân vốn thiệt họ Huỳnh chuyển cơ
Đờn kêu đừng có ngồi chờ
Tùng Quân chỉ rõ Cần Thơ Thầy về
Đờn kêu định đặt con dê
Tùng Quân chưa có hẹn thề non sông
Đờn này đờn của Lão Ông
Không dây không phím cũng không oán hờn
Ai người hiểu rõ tiếng đờn
Đừng cho lỗi nhịp Thất Sơn hầu kề
Chèo thuyền rước khách đem về
Ai mà giữ đặng hai bề hiếu trung
Bồng Lai tiên cảnh thung dung
Dành cho những kẻ biết dùng lý Thiên
Nhắc qua hồi trước khai tiền
Chưa mở quả địa dưới miền Trung Ương
Lão đây ở chốn ngũ phương
Năm từng Trời hạ tận tường nào ai
Quân sư ở cõi Thiên Thai
Tam Quang, Ngũ Đế chuyển xoay cũng già
Thích Ca cũng có Lão mà
Tổ Sư Đạt Ma cũng Già này đây
Về Nam lấy hiệu Phật Thầy
Đầu Ngươn đến cuối Lão đây chuyển hoài
Kỳ này được lệnh Lão Khai
Cũng là kỳ chót định ngay Nam Kỳ
Thiện nam tín nữ biên thùy
Sấm truyền của Lão rán ghi vào lòng
Mười hai con giáp trong vòng
Kể từ Giáp Tý, Lão Ông xuống trần
Lão đây cầm bảng Phong Thần
Đài cơ Lão chuyển định phân ngày giờ
Trong tay cầm quyển thiên thơ
Cơ binh sắp sẵn đợi chờ lệnh trên
Bại rồi lập lại mới nên
Không sanh mà được vững bền dài lâu
Ngọ Mùi Thân Dậu ở đâu
Ấy rồi Tứ Giáo mới hầu ra oai
Ba năm tính tới không sai
Hội niên lập lại Thượng lai y lời
Trần gian sánh thể cõi Trời
Xác phàm hóa kiếp đẹp thời như Tiên
Lòng người bình đẳng an nhiên
Không làm cực nhọc than phiền như nay
Tuổi thọ an hưởng lâu dài
Không già không bịnh không ai tật nguyền
Cây lành trái ngọt muôn thiên
Mưa hòa gió thuận khắp miền trần gian
Hoàn cầu thế giới tịnh an
Âm dương thịnh vượng Trời ban cho người
Chim oanh múa hát hoa cười
Khắp nơi no ấm vui tươi phấn lòng
Thượng Ngươn trai ít gái đông
Vợ thì năm bảy thục quyền nhứt gia
Sanh nở khỏi mụ hộ hà
Tự sanh tự nở thuận hòa mình nuôi
Con thì hiếu thảo thuận xuôi
Chu toàn gia đạo ngọt bùi chia nhau
Chúa minh, chánh ngự ngôi cao
Thần dân trung nghĩa biết bao vui vầy
Thượng Ngươn sơ kể vào đây
Cho đời rõ biết sau này có không
Có tu thì mới có mong
Không tu dầu có ngóng trông thấy nào
Có tu ngày hội được vào
Không tu chừng đó làm sao nhập trường
Trước sau phân giải tận tường
Thấp cao kết luận đôi chương trao đời
Cho người được nối ngôi vương
Trịnh Hâm, Bùi Kiệm bất lương ra gì
Hiền Thần Nhơn Quý có ghi
Trung Thần mắc nạn, rốt thì cũng qua
Luân hồi nói chuyện xưa xa
Bây giờ nói chuyện sát mà một bên
Thả thuyền dòng nướclênh đênh
Sông Tiền sông Hậu biết lên bến nào
Canh tàn gió thổi xạc xào
Thôi Ta đậu lại cặm sào qiu lân
Kiếm người đủ nghĩa đủ nhân
Đủ tài đủ đức định phần thấp cao
Hỡi này chí sĩ mau mau
Trời chiều gió lảng ngán ngao những gì
Lão về nay đã đúng kỳ
Khai Ngươn lập Thượng Bửu Kỳ rạng danh
Hương Trùm sức dẹp chiến tranh
Chơn sư truyền bá đạo lành năm châu
Dưới nghe quy phục cúi đầu
Bóng tùng che phủ đâu đâu an nhàn
Cội lành Sơn Bửu vinh vang
Tùng Quân xuất hiện khắp tràng thảnh thơi
Thôi dừng bút lại nghỉ ngơi
Lão đây cầu chúc cho đời bình yên
Cầu trên chư Phật, chư Tiên
Từ bi tế độ khắp miền thế gian
Góp tom nghĩa lý chu toàn
Cho đời xem xét luận bàn tu thân.
------------------------
Sám Cầu An
Con quỳ lạy Phật chứng minh.
Hai hàng Phật tử tụng kinh cầu nguyền.
Cầu cho thí chủ hiện tiền.
Nội gia quyến thuộc bình yên điều hòa.
Thọ trường hưởng phước nhàn ca.
Phổ Môn kinh tụng trong nhà thảnh thơi.
Quan Âm phò hộ vui chơi.
Mười hai câu nguyện độ đời nên danh.
Thiện nam tín nữ lòng thành.
Ăn chay niệm Phật làm lành vái van.
Quan Âm xem xét thế gian.
Rước người chìm nổi mười phương phiêu trầm.
Mau mau niệm Phật Quan Âm.
Tai qua nạn khỏi định tâm sáng lòa.
Đương cơn lửa cháy đốt ta.
Niệm danh Bồ Tát hóa ra sen vàng.
Gió Đông đi biển chìm thuyền.
Niệm danh Bồ Tát sóng tan hết liền.
Tà ma quỷ báo khùng điên.
Niệm danh Bồ Tát mạnh liền khôn ngoan.
Vào rừng cọp rắn nghinh ngang.
Niệm danh Bồ Tát nó càng chạy xa.
Tội tù ngục tối khảo tra.
Quan Âm tưởng niệm thả ra nhẹ nhàng.
Bị trù bị ếm mê mang.
Quan Âm niệm niệm vái van tịnh bình.
Quan Âm thọ ký làm tin.
Tùy duyên thuyết pháp độ mình hết mê.
Nương theo Bồ Tát trở về.
Thấy mình ngồi gốc Bồ Đề giống in.
Tay cầm bầu nước tịnh bình.
Tay cầm nhành liễu quang minh thân vàng.
Cam lồ rước khắp thế gian.
Tốt tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn.
Quan Âm cứu hết tai nàn.
Độ đời an lạc mười phương thái bình.
Quan Âm điểm đạo độ mình.
Quan Âm Bồ Tát chứng minh độ đời.
NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI LINH CẢM ỨNG QUÁN THẾ
ÂM BỒ TÁT
------------------------
1000 Danh Hiệu Phật
Kinh Một Ngàn Danh Hiệu Phật Ở Hiện Tại
Hiền Kiếp (cũng gọi là Kinh Núi Công Ðức Lớn Nhóm Ðủ Các Phật) Hán Dịch: Từ đời
Nhà Lương đã lạc mất tên người dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán Việt Dịch:
Hòa-thượng Thích-Huyền-Tôn Lúc bấy giờ Bồ-tát Hỷ Vương bạch Phật rằng : Bạch
Ðức Thế-tôn, có phải nay trong chúng hội này, các bậc Bồ-tát lớn đã chứng được
Tam-muội và đã được tám vạn bốn ngàn pháp môn Ba-la-mật? Phật bảo Hỷ Vương :
Thật vậy, nay trong chúng hội nầy có các bậc Ðại-sĩ Bồ-tát, đã được Tam-muội,
cũng đã vào được tám vạn bốn ngàn cửa pháp tột cùng của Niết Bàn, tóm lại có đủ
các môn Tam-muội và Ðà-la-ni. Các bậc Bồ-tát nầy trong đời Hiền Kiếp đều sẽ
thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác; trừ bốn Ðức Như-lai đã thành Phật rồi
trong Hiềp Kiếp nầy. Bồ-tát Hỷ vương lần nữa lại bạch Phật rằng : Cúi xin
Như-lai tuyên nói danh tự của các Bồ-tát thành Phật sau nầy, để thêm nhiều lợi
ích cho các cõi trời người và an ổn cho thế gian, hơn nữa hộ trì cho Phật Pháp
được tồn tại lâu dài, hiển bày pháp sáng suốt của Bồ-tát trong vị lai và tâm
cầu đạo vô thượng không mỏi mệt. Phật bảo Bồ Tát Hỷ-Vương : Các ông hãy lắng
nghe và sống trong thiện niệm, tôi vì các ông mà nói. Đại Chúng Đáp: Chúng con
xin nghe lời dạy của Thế-tôn. Bấy giờ Ðức Thế-tôn liền nói một ngàn danh hiệu
của chư Phật đời Hiền Kiếp, mà Phật Câu Lưu Tôn là thượng thủ: *Nam Mô Câu Lưu
Tôn Phật *Nam Mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật *Nam Mô Ca Diếp Phật *Nam Mô Thích Ca
Mâu Ni Phật. - Nam Mô Di Lặc Phật - Nam Mô Sư Tử Phật - Nam Mô Minh Diễm Phật -
Nam Mô Mâu Ni Phật - Nam Mô Diệu Hoa Phật - Nam Mô Hoa Thị Phật - Nam Mô Thiện
Tú Phật - Nam Mô Ðạo Sư Phật - Nam Mô Ðại Tý Phật - Nam Mô Ðại Lực Phật - Nam
Mô Tú Vương Phật - Nam Mô Tu Dược Phật - Nam Mô Danh Tướng Phật - Nam Mô Ðại
Minh Phật - Nam Mô Diễm Kiên Phật - Nam Mô Chiếu Diệu Phật - Nam Mô Nhựt Tạng
Phật - Nam Mô Nguyệt Thị Phật - Nam Mô Chúng Diễm Phật - Nam Mô Thiện Minh Phật
- Nam Mô Vô Ưu Phật - Nam Mô Ðề Sa Phật - Nam Mô Minh Diệu Phật - Nam Mô Trì
Mang Phật - Nam Mô Công Ðức Minh Phật - Nam Mô Thị Nghĩa Phật - Nam Mô Ðăng
Diệu Phật - Nam Mô Hưng Thạnh Phật - Nam Mô Dược Sư Phật - Nam Mô Thiện Nhu
Phật - Nam Mô Bạch Hào Phật - Nam Mô Kiên Cố Phật - Nam Mô Phước Oai Ðức Phật -
Nam Mô Bất Khả Hoại Phật - Nam Mô Ðức Tướng Phật - Nam Mô La Hầu Phật - Nam Mô
Chúng Chủ Phật - Nam Mô Phạn Thinh Phật - Nam Mô Kiên Tế Phật - Nam Mô Bất Cao
Phật - Nam Mô Tác Minh Phật - Nam Mô Ðại Sơn Phật - Nam Mô Kim Cang Phật - Nam
Mô Tướng Chúng Phật - Nam Mô Vô Úy Phật - Nam Mô Trân Bảo Phật - Nam Mô Hoa
Nhựt Phật - Nam Mô Quân Lực Phật - Nam Mô Hương Diễm Phật - Nam Mô Nhơn Ái Phật
- Nam Mô Ðại Oai Ðức Phật - Nam Mô Phạm Vương Phật - Nam Mô Vô Lượng Minh Phật
- Nam Mô Long Ðức Phật - Nam Mô Kiên Bộ Phật - Nam Mô Bất Hư Kiến Phật - Nam Mô
Tinh Tấn Ðức Phật - Nam Mô Thiện Thủ (giữ) Phật - Nam Mô Hoan Hỷ Phật - Nam Mô
Bất Thối Phật - Nam Mô Sư Tử Tướng Phật - Nam Mô Thắng Tri Phật - Nam Mô Pháp
Thị Phật - Nam Mô Hỷ Vương Phật - Nam Mô Diệu Ngự Phật - Nam Mô Ái Tác Phật -
Nam Mô Ðức Tý Phật - Nam Mô Hương Tượng Phật - Nam Mô Quán Thị Phật - Nam Mô
Vân Âm Phật - Nam Mô Thiện Tư Phật - Nam Mô Thiện Cao Phật - Nam Mô Ly Cấu Phật
- Nam Mô Nguyệt Tướng Phật - Nam Mô Ðại Danh Phật - Nam Mô Châu Kế Phật - Nam
Mô Oai Mãnh Phật - Nam Mô Sư Tử Hống Phật - Nam Mô Ðức Thọ Phật - Nam Mô Hoan
Thích Phật - Nam Mô Huệ Tụ Phật - Nam Mô An Trụ Phật - Nam Mô Hữu Ý Phật - Nam
Mô Ương Già Ðà Phật - Nam Mô Vô Lượng Ý Phật - Nam Mô Diệu Sắc Phật - Nam Mô Ða
Trí Phật - Nam Mô Quang Minh Phật - Nam Mô Kiên Giới Phật - Nam Mô Kiết Tường
Phật - Nam Mô Bảo Tướng Phật - Nam Mô Liên Hoa Phật - Nam Mô Na La Diên Phật -
Nam Mô An Lạc Phật - Nam Mô Trí Tích Phật - Nam Mô Ðức Kỉnh Phật - Nam Mô Phạm
Ðức Phật - Nam Mô Bảo Tích Phật - Nam Mô Hoa Thiên Phật - Nam Mô Thiện Tư Nghì
Phật - Nam Mô Pháp Tự Tại Phật - Nam Mô Danh Văn Ý Phật - Nam Mô Nhạo Thuyết Tụ
Phật - Nam Mô Kim Cang Tướng Phật - Nam Mô Cầu Lợi Ích Phật - Nam Mô Du Hý Thần
Thông Phật - Nam Mô Ly Ảm Phật - Nam Mô Danh Thiên Phật - Nam Mô Di Lầu Tướng
Phật - Nam Mô Chúng Minh Phật - Nam Mô Bảo Tạng Phật - Nam Mô Cực Cao Hạnh Phật
- Nam Mô Kim Cang Thuẩn Phật - Nam Mô Châu Giác Phật - Nam Mô Ðức Tán Phật -
Nam Mô Nhựt Nguyệt Minh Phật - Nam Mô Nhựt Nguyệt Phật - Nam Mô Tinh Tú Phật -
Nam Mô Thanh Tịnh Nghĩa Phật - Nam Mô Vi Lam Vương Phật - Nam Mô Phước Tạng
Phật - Nam Mô Kiến Hữu Biên Phật - Nam Mô Ðiển Minh Phật - Nam Mô Kim Sơn Phật
- Nam Mô Sư Tử Ðức Phật - Nam Mô Thắng Tướng Phật - Nam Mô Minh Tán Phật - Nam
Mô Kiên Tinh Tấn Phật - Nam Mô Cụ Túc Tán Phật - Nam Mô Ly Úy Sư Phật - Nam Mô
Ứng Thiên Phật - Nam Mô Ðại Ðăng Phật - Nam Mô Thế Minh Phật - Nam Mô Diệu Âm
Phật - Nam Mô Trì Thượng Công Ðức Phật - Nam Mô Cám ThÂn Phật - Nam Mô Sư Tử
Giáp Phật - Nam Mô Bảo Tán Phật - Nam Mô Chúng Vương Phật - Nam Mô Du Bộ Phật -
Nam Mô An Ổn Phật - Nam Mô Pháp Sai Biệt Phật - Nam Mô Thượng Tôn Phật - Nam Mô
Cực Cao Ðức Phật - Nam Mô Thượng Sư Tử Âm Phật - Nam Mô Lạc Hý Phật - Nam Mô
Long Minh Phật - Nam Mô Hoa Sơn Phật - Nam Mô Long Hỷ Phật - Nam Mô Hương Tự
Tại Vương Phật - Nam Mô Bảo Diễm Sơn Phật - Nam Mô Thiên Lực Phật - Nam Mô Ðức
Mang Phật - Nam Mô Long Thủ Phật - Nam Mô Nhân Trang Nghiêm Phật - Nam Mô Thiện
Hạnh Ý Phật - Nam Mô Trí Thắng Phật - Nam Mô Vô Lượng Nhựt Phật - Nam Mô Thật
Ngữ Phật - Nam Moâ Trì Cự Phật - Nam Mô Ðịnh Ý Phật - Nam Mô Vô Lượng Hình Phật
- Nam Mô Minh Chiếu Phật - Nam Mô Tối Thắng Ðăng Phật - Nam Mô Ðoạn Nghi Phật -
Nam Mô Trang Nghiêm Thân Phật - Nam Mô Bất Hư Bộ Phật - Nam Mô Giác Ngộ Phật -
Nam Mô Hoa Tướng Phật - Nam Mô Sơn Chủ Vương Phật - Nam Mô Thiện Oai Nghi Phật
- Nam Mô Biến Kiến Phật - Nam Mô Vô Lượng Danh Phật - Nam Mô Bảo Thiên Phật -
Nam Mô Diệt Quá Phật - Nam Mô Trì Cam Lồ Phật - Nam Mô Nhơn Nguyệt Phật - Nam
Mô Hỷ Kiến Phật - Nam Mô Trang Nghiêm Phật - Nam Mô Châu Minh Phật - Nam Mô Sơn
Ðảnh Phật - Nam Mô Ðáo Bỉ Ngạn Phật - Nam Mô Pháp Tích Phật - Nam Mô Ðịnh Nghĩa
Phật - Nam Moâ Thí Nguyện Phật - Nam Mô Bảo Tụ Phật - Nam Mô Trụ Nghĩa Phật -
Nam Mô Mãn Ý Phật - Nam Mô Thượng Tán Phật - Nam Mô Từ Ðức Phật - Nam Mô Vô Cấu
Phật - Nam Mô Phạm Thiên Phật - Nam Mô Hoa Minh Phật - Nam Mô Thân Sai Biệt
Phật - Nam Mô Pháp Minh Phật - Nam Mô Tận Kiến Phật - Nam Mô Ðức Tịnh Phật -
Nam Mô Nguyệt Diện Phật - Nam Mô Bảo Ðăng Phật - Nam Mô Bảo Ðang Phật - Nam Mô
Thượng Danh Phật - Nam Mô Tác Danh Phật - Nam Mô Vô Lượng Âm Phật - Nam Mô Vi
Lam Phật - Nam Mô Sư Tử Thân Phật - Nam Mô Minh Ý Phật - Nam Mô Vô Năng Thắng
Phật - Nam Mô Công Ðức Phẩm Phật - Nam Mô Hải Tuệ Phật - Nam Mô Ðắc Thế Phật -
Nam Mô Vô Biên Hạnh Phật - Nam Mô Khai Hoa Phật - Nam Mô Tịnh Cấu Phật - Nam Mô
Kiến Nhứt Thế Nghĩa Phật - Nam Mô Dũng Lực Phật - Nam Mô Phú Túc Phật - Nam Mô
Phúc Ðức Phật - Nam Mô Tùy Thời Phật - Nam Mô Khánh Âm Phật - Nam Mô Công Ðức
Kỉnh Phật - Nam Mô Quảng Ý Phật - Nam Mô Thiện Tịch Diệt Phật - Nam Mô Tài
Thiên Phật - Nam Mô Tịnh Ðoạn Nghi Phật - Nam Mô Vô Lượng Trì Phật - Nam Mô
Diệu Lạc Phật - Nam Mô Bất Phụ Phật - Nam Mô Vô Trụ Phật - Nam Mô Ðắc Xoa Ca
Phật - Nam Mô Chúng Thủ Phật - Nam Mô Thế Quang Phật - Nam Mô Ða Ðức Phật - Nam
Mô Phất Sa Phật - Nam Mô Vô Biên Oai Ðức Phật - Nam Mô Nghĩa Ý Phật - Nam Mô
Dược Vương Phật - Nam Mô Ðoạn Ác Phật - Nam Mô Vô Nhiệt Phật - Nam Mô Thiện
Ðiều Phật - Nam Mô Danh Ðức Phật - Nam Mô Hoa Ðức Phật - Nam Mô Dũng Ðắc Phật -
Nam Mô Kim Cang Quân Phật - Nam Mô Ðại Ðức Phật - Nam Mô Tịch Diệt Ý Phật - Nam
Mô Vô Biên Âm Phật - Nam Mô Ðại Oai Quang Phật - Nam Mô Thiện Trụ Phật - Nam Mô
Vô Sở Phụ Phật - Nam Mô Ly Nghi Hoặc Phật - Nam Mô Ðiển Tướng Phật - Nam Mô
Cung Kỉnh Phật - Nam Mô Oai Ðức Thủ Phật - Nam Mô Trí Nhựt Phật - Nam Mô Thượng
Lợi Phật - Nam Mô Tu Di Ðảnh Phật - Nam Mô Tịnh Tâm Phật - Nam Mô Trị Oán Tặc Phật
- Nam Mô Ly Kiêu Phật - Nam Mô Ưng Tán Phật - Nam Mô Trí Thứ Phật - Nam Mô Na
La Ðạt Phật - Nam Mô Thường Lạc Phật - Nam Mô Bất Thiểu Quốc Phật - Nam Mô
Thiên Danh Phật - Nam Mô Vân Ðức Phật - Nam Mô Thậm Lương Phật - Nam Mô Ða Công
Ðức Phật - Nam Mô Bảo Nguyệt Phật - Nam Mô Trang Nghiêm Ðảnh Kế Phật - Nam Mô
Lạc Thiền Phật - Nam Mô Vô Sở Thiểu Phật - Nam Mô Du Hý Phật - Nam Mô Ðức Bảo
Phật - Nam Mô Ứng Danh Xưng Phật - Nam Mô Hoa Thân Phật - Nam Mô Ðại Âm Thinh
Phật - Nam Mô Biện Tài Tán Phật - Nam Mô Kim Cang Châu Phật - Nam Mô Vô Lượng
Thọ Phật - Nam Mô Châu Trang Nghiêm Phật - Nam Mô Ðại Vương Phật - Nam Mô Ðức
Cao Hạnh Phật - Nam Mô Cao Danh Phật - Nam Mô Bách Quang Phật - Nam Mô Hỷ Duyệt
Phật - Nam Mô Long Bộ Phật - Nam Mô Ý Nguyện Phật - Nam Mô Diệu Bảo Phật - Nam
Mô Diệt Kỷ Phật - Nam Mô Pháp Tràng Phật - Nam Mô Ðiều Ngự Phật - Nam Mô Hỷ Tự
Tại Phật - Nam Mô Bảo Kế Phật - Nam Mô Ly Sơn Phật - Nam Mô Tịnh Thiên Phật -
Nam Mô Hoa Quan Phật - Nam Mô Tịnh Danh Phật - Nam Mô Oai Ðức Tịch Diệt Phật -
Nam Mô Ái Tướng Phật - Nam Mô Ða Thiên Phật - Nam Mô Tu Diễm Ma Phật - Nam Mô
Thiên Oai Phật - Nam Mô Diệu Ðức Vương Phật - Nam Mô Bảo Bộ Phật - Nam Mô Sư Tử
Phận Phật - Nam Mô Tối Tôn Thắng Phật - Nam Mô Nhơn Vương Phật - Nam Mô Chiên
Ðàn Vân Phật - Nam Mô Cám Nhãn Phật - Nam Mô Bảo Oai Ðức Phật - Nam Mô Ðức Thừa
Phật - Nam Mô Giác Tưởng Phật - Nam Mô Hỷ Trang Nghiêm Phật - Nam Mô Hương Tế
Phật - Nam Mô Thắng Tuệ Phật - Nam Mô Ly Ái Phật - Nam Mô Từ Tướng Phật - Nam
Mô Diệu Hương Phật - Nam Mô Kiên Khải Phật - Nam Mô Oai Ðức Mãnh Phật - Nam Mô
Châu Khải Phật - Nam Mô Nhân Hiền Phật - Nam Mô Thiện Thệ Nguyệt Phật - Nam Mô
Phạm Tự Tại Phật - Nam Mô Sư Tử Nguyệt Phật - Nam Mô Quan Sát Tuệ Phật - Nam Mô
Chánh Sanh Phật - Nam Mô Cao Thắng Phật - Nam Mô Nhựt Quang Phật - Nam Mô Bảo
Danh Phật - Nam Mô Ðại Tinh Tấn Phật - Nam Mô Sơn Quang Phật - Nam Mô Ðức Tụ
Vương Phật - Nam Mô Cúng Dường Danh Phật - Nam Mô Pháp Tán Phật - Nam Mô Thí
Minh Phật - Nam Mô Ðiển Ðức Phật - Nam Mô Bảo Ngữ Phật - Nam Mô Cứu Mạng Phật -
Nam Mô Thiện Giới Phật - Nam Mô Thiện Chúng Phật - Nam Mô Kiên Cố Tuệ Phật -
Nam Mô Phá Hữu Ám Phật - Nam Mô Thiện Thắng Phật - Nam Mô Sư Tử Quang Phật -
Nam Mô Chiếu Minh Phật - Nam Mô Bảo Thành Tựu Phật - Nam Mô Lợi Tuệ Phật - Nam
Mô Châu Nguyệt Quang Phật - Nam Mô Oai Quang Phật - Nam Mô Bất Phá Luận Phật -
Nam Mô Quang Minh Vương Phật - Nam Mô Châu Luân Phật - Nam Mô Kim Cang Tuệ Phật
- Nam Mô Kiết Thủ Phật - Nam Mô Thiện Nguyệt Phật - Nam Mô Bảo Diễm Phật - Nam
Mô La Hầu Thủ Phật - Nam Mô Lạc Bồ Ðề Phật - Nam Mô Ðẳng Quang Phật - Nam Mô
Chí Tịch Diệt Phật - Nam Mô Thế Tối Diệu Phật - Nam Mô Tự Tại Danh Phật - Nam
Mô Thập Thế Lực Phật - Nam Mô Hỷ Lực Vương Phật - Nam Mô Ðức Thế Lực Phật - Nam
Mô Tối Thắng Ðảnh Phật - Nam Mô Ðại Thế Lực Phật - Nam Mô Công Ðức Tạng Phật -
Nam Mô Chơn Hạnh Phật - Nam Mô Thượng An Phật - Nam Mô Kim Cang Tri Sơn Phật -
Nam Mô Ðại Quang Phật - Nam Mô Diệu Ðức Tạng Phật - Nam Mô Quảng Ðức Phật - Nam
Mô Bảo Võng Nghiêm Thân Phật - Nam Mô Phúc Ðức Minh Phật - Nam Mô Tạo Khải Phật
- Nam Mô Thành Thủ Phật - Nam Mô Thiện Hoa Phật - Nam Mô Tập Bảo Phật - Nam Mô
Ðại Hải Trí Phật - Nam Mô Trì Ðịa Ðức Phật - Nam Mô Thiện Ý Mãnh Phật - Nam Mô
Thiện Tư Duy Phật - Nam Mô Ðức Luân Phật - Nam Mô Bảo Quang Phật - Nam Mô Lợi
Ích Phật - Nam Mô Thế Nguyệt Phật - Nam Mô Mỹ Âm Phật - Nam Mô Phạm Tướng Phật
- Nam Mô Chúng Sư Thủ Phật - Nam Mô Sư Tử Hành Phật - Nam Mô Nan Thi Phật - Nam
Mô Ứng Cúng Phật - Nam Mô Minh Oai Ðức Phật - Nam Mô Ðại Quang Vương Phật - Nam
Mô Kim Cang Bảo Nghiêm Phật - Nam Mô Chúng Thanh Tịnh Phật - Nam Mô Vô Biên
Danh Phật - Nam Mô Bất Hư Quang Phật - Nam Mô Thánh Thiên Phật - Nam Mô Trí
Vương Phật - Nam Mô Kim Cang Chúng Phật - Nam Mô Thiện Chướng Phật - Nam Mô
Kiên Từ Phật - Nam Mô Hoa Quốc Phật - Nam Mô Pháp Ý Phật - Nam Mô Phong Hành
Phật - Nam Mô Thiện Tư Minh Phật - Nam Mô Ða Minh Phật - Nam Mô Mật Chúng Phật
- Nam Mô Quang Vương Phật - Nam Mô Công Ðức Thủ Phật - Nam Mô Lợi Ý Phật - Nam
Mô Vô Cụ Phật - Nam Mô Kiên Quán Phật - Nam Mô Trụ Pháp Phật - Nam Mô Châu Túc
Phật - Nam Mô Giải Thoát Ðức Phật - Nam Mô Diệu Thân Phật - Nam Mô Tùy Thế Ngữ
Ngôn Phật - Nam Mô Diệu Trí Phật - Nam Mô Phổ Ðức Phật - Nam Mô Phạm Tài Phật -
Nam Mô Thật Âm Phật - Nam Mô Chánh Trí Phật - Nam Moâ Lực Ðắc Phật - Nam Mô Sư
Tử Ý Phật - Nam Mô Tịnh Hoa Phật - Nam Mô Hỷ Nhãn Phật - Nam Mô Hoa Xỉ Phật -
Nam Mô Công Ðức Tự Tại Tràng Phật - Nam Mô Minh Bảo Phật - Nam Mô Hy Hữu Danh
Phật - Nam Mô Thượng Giới Phật - Nam Mô Ly Dục Phật - Nam Mô Tự Tại Thiên Phật
- Nam Mô Phạm Thọ Phật - Nam Mô Nhứt Thiết Thiên Phật - Nam Mô Lạc Trí Phật -
Nam Mô Khả Ức Niệm Phật - Nam Mô Châu Tạng Phật - Nam Mô Ðức Lưu Bố Phật - Nam
Mô Ðại Thiên Vương Phật - Nam Mô Vô Phược Phật - Nam Mô Kiên Pháp Phật - Nam Mô
Thiên Ðức Phật - Nam Mô Phạm Mâu Ni Phật - Nam Mô An Tường Hạnh Phật - Nam Mô
Cần Tinh Tấn Phật - Nam Mô Ðắc Thượng Vị Phật - Nam Mô Vô Y Ðức Phật - Nam Mô
Chiêm Bặc Hoa Phật - Nam Mô Xuất Sanh Vô Thượng Công Ðức Phật - Nam Mô Tiên
Nhơn Thị Vệ Phật - Nam Mô Ðế Tràng Phật - Nam Mô Ðại Ái Phật - Nam Mô Tu Man
Sắc Phật - Nam Mô Chúng Diệu Phật - Nam Mô Khả Lạc Phật - Nam Mô Thế Lực Hạnh
Phật - Nam Mô Thiện Ðịnh Nghĩa Phật - Nam Mô Ngưu Vương Phật - Nam Mô Diệu Tý
Phật - Nam Mô Ðại Xa Phật - Nam Mô Mãn Nguyện Phật - Nam Mô Ðức Quang Phật -
Nam Mô Bảo Âm Phật - Nam Mô Quang Tràng Phật - Nam Mô Phú Quý Phật - Nam Mô Sư
Tử Lực Phật - Nam Mô Tịnh Mục Phật - Nam Mô Quán Thân Phật - Nam Mô Tịnh Ý Phật
- Nam Mô Tri Thứ Ðệ Phật - Nam Mô Mãnh Oai Ðức Phật - Nam Mô Ðại Quang Minh
Phật - Nam Mô Nhựt Quang Diệu Phật - Nam Mô Tịnh Tạng Phật - Nam Mô Phân Biệt
Oai Phật - Nam Mô Vô Tổn Phật - Nam Mô Mật Nhựt Phật - Nam Mô Nguyệt Quang Phật
- Nam Mô Trì Minh Phật - Nam Mô Thiện Tịch Hạnh Phật - Nam Mô Bất Ðộng Phật -
Nam Mô Ðại Thỉnh Phật - Nam Mô Ðức Pháp Phật - Nam Mô Nghiêm Ðộ Phật - Nam Mô Trang
Nghiêm Vương Phật - Nam Mô Cao Xuất Phật - Nam Mô Diệm Xí Phật - Nam Mô Liên
Hoa Ðức Phật - Nam Mô Bảo Nghiêm Phật - Nam Mô Cao Ðại Thân Phật - Nam Mô
Thượng Thiện Phật - Nam Mô Bảo Thượng Phật - Nam Mô Vô Lượng Quang Phật - Nam
Mô Hải Ðức Phật - Nam Mô Bảo Ấn Thủ Phật - Nam Mô Nguyệt Cái Phật - Nam Mô Ða
Diễm Phật - Nam Mô Thuận Tịch Diệt Phật - Nam Mô Trí Xưng Phật - Nam Mô Trí
Giác Phật - Nam Mô Công Ðức Quang Phật - Nam Mô Thinh Lưu Boá Phật - Nam Mô Mãn
Nguyệt Phật - Nam Mô Danh Xưng Phật - Nam Mô Thiện Giới Vương Phật - Nam Mô
Ðăng Vương Phật - Nam Mô Ðiển Quang Phật - Nam Mô Ðại Diệm Vương Phật - Nam Mô
Tịch Chư Hữu Phật - Nam Mô Tỳ Xá Khư Thiên Phật - Nam Mô Hoa Tạng Phật - Nam Mô
Kim Cang Sơn Phật - Nam Mô Thân Ðoan Nghiêm Phật - Nam Mô Tịnh Nghĩa Phật - Nam
Mô Oai Mãnh Quân Phật - Nam Mô Trí Diễm Ðức Phật - Nam Mô Lực Hạnh Phật - Nam
Mô La Hầu Thiên Phật - Nam Mô Trí Tụ Phật - Nam Mô Sư Tử Xuất Hiện Phật - Nam
Mô Như Vương Phật - Nam Mô Viên Mãn Thanh Tịnh Phật - Nam Mô La Hầu La Phật -
Nam Mô Ðại Dược Phật - Nam Mô Thanh Tịnh Hiền Phật - Nam Mô Ðệ Nhất Nghĩa Phật
- Nam Mô Ðức Thủ Phật - Nam Mô Bách Quang Minh Phật - Nam Mô Lưu Bố Vương Phật
- Nam Mô Vô Lượng Công Ðức Phật - Nam Mô Pháp Tạng Phật - Nam Mô Diệu Ý Phật -
Nam Mô Ðức Chủ Phật - Nam Mô Tối Tăng Thượng Phật - Nam Mô Tuệ Ðảnh Phật - Nam
Mô Thắng Oán Ðịch Phật - Nam Mô Ý Hạnh Phật - Nam Mô Phạm Âm Phật - Nam Mô Giải
Thoát Phật - Nam Mô Lôi Âm Phật - Nam Mô Thông Tướng Phật - Nam Mô Tuệ Long
Phật - Nam Mô Thâm Tự Tại Phật - Nam Mô Ðại Ðịa Vương Phật - Nam Mô Ðại Ngưu
Vương Phật - Nam Mô Lê Ðà Mục Phật - Nam Mô Hy Hữu Thân Phật - Nam Mô Thật
Tướng Phật - Nam Mô Tối Tôn Thiên Phật - Nam Mô Bất Một Âm Phật - Nam Mô Bảo
Thắng Phật - Nam Mô Âm Ðức Phật - Nam Mô Trang Nghiêm Từ Phật - Nam Mô Dũng Trí
Phật - Nam Mô Hoa Tích Phật - Nam Mô Hoa Khai Phật - Nam Mô Vô Thượng Y Vương
Phật - Nam Mô Ðức Tích Phật - Nam Mô Thượng Hình Sắc Phật - Nam Mô Công Ðức
Nguyệt Phật - Nam Mô Nguyệt Ðăng Phật - Nam Mô Oai Ðức Vương Phật - Nam Mô Bồ
Ðề Vương Phật - Nam Mô Vô Tận Phật - Nam Mô Bồ Ðề Nhãn Phật - Nam Mô Thân Sung
Mãn Phật - Nam Mô Tuệ Quốc Phật - Nam Mô Tối Thượng Phật - Nam Mô Thanh Tịnh
Chiếu Phật - Nam Mô Tuệ Ðức Phật - Nam Mô Diệu Âm Thinh Phật - Nam Mô Vô Ngại
Quang Phật - Nam Mô Vô Ngại Tạng Phật - Nam Mô Thượng Thí Phật - Nam Mô Ðại Tôn
Phật - Nam Mô Trí Thế Phật - Nam Mô Ðại Diễm Phật - Nam Mô Ðế Vương Phật - Nam
Mô Chế Lực Phật - Nam Mô Oai Ðức Phật - Nam Mô Nguyệt Hiện Phật - Nam Mô Danh
Văn Phật - Nam Mô Ðoan Nghiêm Phật - Nam Mô Vô Trần Cấu Phật - Nam Mô Oai Nghi
Phật - Nam Mô Sư Tử Quân Phật - Nam Mô Thiên Vương Phật - Nam Mô Danh Thinh
Phật - Nam Mô Thù Thắng Phật - Nam Mô Ðại Tạng Phật - Nam Mô Phước Ðức Quang
Phật - Nam Mô Phạm Văn Phật - Nam Mô Xuất Chư Hữu Phật - Nam Mô Trí Ðảnh Phật -
Nam Mô Thượng Thiên Phật - Nam Mô Ðịa Vương Phật - Nam Mô Chí Giải Thoát Phật -
Nam Mô Kim Kế Phật - Nam Mô La Hầu Nhựt Phật - Nam Mô Mạc Năng Thắng Phật - Nam
Mô Mâu Ni Tịnh Phật - Nam Mô Thiện Quang Phật - Nam Mô Kim Tề Phật - Nam Mô
Chủng Ðức Thiên Vương Phật - Nam Moâ Pháp Cái Phật - Nam Mô Dũng Mãnh Danh Xưng
Phật - Nam Mô Quang Minh Môn Phật - Nam Mô Mỹ Diệu Tuệ Phật - Nam Mô Vi Ý Phật
- Nam Mô Chư Oai Ðức Phật - Nam Mô Sư Tử Kế Phật - Nam Mô Giải Thoát Tươùng
Phật - Nam Mô Tuệ Tạng Phật - Nam Mô Ta La Vương Phật - Nam Mô Oai Tướng Phật -
Nam Mô Ðoạn Lưu Phật - Nam Mô Vô Ngại Tán Phật - Nam Mô Sở Tác Dĩ Biện Phật -
Nam Mô Thiện Âm Phật - Nam Mô Sơn Vương Tướng Phaät - Nam Mô Pháp Ðảnh Phật -
Nam Mô Vô Năng Ánh Tế Phật - Nam Mô Thiện Ðoan Nghiêm Phật - Nam Mô Kiết Thân
Phật - Nam Mô Ái Ngữ Phật - Nam Mô Sư Tử Lợi Phật - Nam Mô Hòa Lâu Na Phật -
Nam Mô Sư Tử Pháp Phật - Nam Mô Pháp Lực Phật - Nam Mô Ái Lạc Phật - Nam Mô Tán
Bất Ðộng Phật - Nam Mô Chúng Minh Vương Phật - Nam Mô Giác Ngộ Chúng Sanh Phật
- Nam Mô Diệu Minh Phật - Nam Mô Ý Trụ Nghĩa Phật - Nam Mô Quang Chiếu Phật -
Nam Mô Hương Ðức Phật - Nam Mô Linh Hỷ Phật - Nam Mô Nhựt Thành Tựu Phật - Nam
Mô Diệt Nhuế Phật - Nam Mô Thượng Sắc Phật - Nam Mô Thiện Bộ Phật - Nam Mô Ðại
Âm Tán Phật - Nam Mô Tịnh Nguyện Phật - Nam Mô Nhựt Thiên Phật - Nam Mô Lạc Tuệ
Phật - Nam Mô Nhiếp Thân Phật - Nam Mô Oai Ðức Thế Phật - Nam Mô Sát Lợi Phật -
Nam Mô Chúng Hội Vương Phật - Nam Mô Thượng Kim Phật - Nam Mô Giải Thoát Kế
Phật - Nam Mô Lạc Pháp Phật - Nam Mô Trụ Hạnh Phật - Nam Mô Xả Kiêu Mạn Phật -
Nam Mô Trí Tạng Phật - Nam Mô Phạm Hạnh Phật - Nam Mô Chiên Ðàn Phật - Nam Mô
Vô Ưu Danh Phật - Nam Mô Ðoan Nghiêm Thân Phật - Nam Mô Tướng Quốc Phật - Nam
Mô Mẫn Trì Phật - Nam Mô Vô Biên Ðức Phật - Nam Mô Thiên Quang Phật - Nam Mô
Tuệ Hoa Phật - Nam Mô Tần Ðầu Ma Phật - Nam Mô Trí Phú Phật - Nam Mô Ðại Nguyện
Quang Phật - Nam Mô Bảo Thủ Phật - Nam Mô Tịnh Căn Phật - Nam Mô Cụ Túc Luận
Phật - Nam Mô Thượng Luận Phật - Nam Mô Bất Thối Ðịa Phật - Nam Mô Pháp Tự Tại
Bất Hư Phật - Nam Mô Hữu Nhựt Phật - Nam Mô Xuất Nê Phật - Nam Mô Ðắc Trí Phật
- Nam Mô Thượng Kiết Phật - Nam Mô Mồ La Phật - Nam Mô Pháp Lạc Phật - Nam Mô
Cầu Thắng Phật - Nam Mô Trí Tuệ Phật - Nam Mô Thiện Thánh Phật - Nam Mô Võng
Quang Phật - Nam Mô Lưu Ly Tạng Phật - Nam Mô Thiện Thiên Phật - Nam Mô Lợi
Tịch Phật - Nam Mô Giáo Hóa Phật - Nam Mô Phổ Tùy Thuận Tự Tại Phật - Nam Mô
Kiên Cố Khổ Hạnh Phật - Nam Mô Chúng Ðức Thượng Minh Phật - Nam Mô Bảo Ðức Phật
- Nam Mô Nhất Thế Thiện Hữu Phật - Nam Mô Giải Thoát Âm Phật - Nam Mô Cam Lồ
Minh Phật - Nam Mô Du Hý Vương Phật - Nam Mô Diệt Tà Khúc Phật - Nam Mô Nhất
Thế Chủ Phật - Nam Mô Chiêm Bặc Tịnh Quang Phật - Nam Mô Sơn Vương Phật - Nam
Mô Tịch Diệt Phật - Nam Mô Ðức Tụ Phật - Nam Mô Cụ Chúng Ðức Phật - Nam Mô Tối Thắng
Nguyệt Phật - Nam Mô Thiện Thí Phật - Nam Mô Trụ Bản Phật - Nam Mô Coâng Ðức
Oai Tụ Phật - Nam Mô Trí Vô Ðẳng Phật - Nam Mô Cam Lồ Âm Phật - Nam Mô Thiện
Thủ Phật - Nam Mô Chấp Minh Cự Phật - Nam Mô Tư Giải Thoát Nghĩa Phật - Nam Mô
Thắng Âm Phật - Nam Mô Lê Ðà Hạnh Phật - Nam Mô Thiện Nghĩa Phật - Nam Mô Vô
Quá Phật - Nam Mô Hành Thiện Phật - Nam Mô Thù Diệu Thân Phật - Nam Mô Diệu
Quang Phật - Nam Mô Lạc Thuyết Phật - Nam Mô Thiện Tế Phật - Nam Mô Bất Khả
Thuyết Phật - Nam Mô Tối Thanh Tịnh Phật - Nam Mô Nhạo Tri Phật - Nam Mô Biện
Tài Nhựt Phật - Nam Mô Phá Tha Quân Phật - Nam Mô Bảo Nguyệt Minh Phật - Nam Mô
Thượng Ý Phật - Nam Mô Hữu An Chúng Sanh Phật - Nam Mô Ðại Kiến Phật - Nam Mô
Vô Úy Âm Phật - Nam Mô Thủy Thiên Ðức Phật - Nam Mô Huệ Tế Phật - Nam Mô Vô
Ðẳng Ý Phật - Nam Mô Bất Ðộng Tuệ Quang Phật - Nam Mô Bồ Ðề Ý Phật - Nam Mô Thọ
Vương Phật - Nam Mô Bàn Ðà Âm Phật - Nam Mô Phước Ðức Lực Phật - Nam Mô Thế Ðức
Phật - Nam Mô Thánh Ái Phật - Nam Mô Thế Hạnh Phật - Nam Mô Hổ Phách Phật - Nam
Mô Lôi Âm Vân Phật - Nam Mô Thiện Ái Muïc Phật - Nam Mô Thiện Trí Phật - Nam Mô
Cụ Túc Phật - Nam Mô Hoa Thắng Phật - Nam Mô Ðại Âm Phật - Nam Mô Pháp Tướng
Phật - Nam Mô Trí Âm Phật - Nam Mô Hư Không Phật - Nam Mô Từ Âm Phật - Nam Mô
Tuệ Âm Sai Biệt Phật - Nam Mô Nguyệt Diễm Phật - Nam Mô Thánh Vương Phật - Nam
Mô Chúng Ý Phật - Nam Mô Biện Tài Luận Phật - Nam Mô Thiện Tịch Phật - Nam Mô
Bất Thối Tuệ Phật - Nam Mô Nhựt Danh Phật - Nam Mô Vô Trước Tuệ Phật - Nam Mô
Công Ðức Tập Phật - Nam Mô Hoa Ðức Tướng Phật - Nam Mô Biện Tài Quốc Phật - Nam
Mô Bảo Thí Phật - Nam Mô Ái Nguyệt Phật - Nam Mô Tập Công Ðức Uẩn Phật - Nam Mô
Diệt Ác Thú Phật - Nam Mô Tự Tại Vương Phật - Nam Mô Vô Lượng Tịnh Phật - Nam
Mô Ðẳng Ðịnh Phật - Nam Mô Bất Hoại Phật - Nam Mô Diệt Cấu Phật - Nam Mô Bất
Thất Phương Tiện Phật - Nam Mô Vô Náo Phật - Nam Mô Diệu Diện Phật - Nam Mô Trí
Chế Trụ Phật - Nam Mô Pháp Sư Vương Phật - Nam Mô Ðại Thiên Phật - Nam Mô Thâm
Ý Phật - Nam Mô Vô Lượng Phật - Nam Mô Vô Ngại Kiến Phật - Nam Mô Thế Cúng
Dường Phật - Nam Mô Phoå Tán Hoa Phật - Nam Mô Tam Thế Cúng Phật - Nam Mô Ứng
Nhựt Tạng Phật - Nam Mô Thiên Cúng Dường Phật - Nam Mô Thượng Trí Nhân Phật -
Nam Mô Chân Kế Phật - Nam Mô Tín Cam Lồ Phật - Nam Mô Bất Trước Tướng Phật -
Nam Mô Ly Phân Biệt Hải Phật - Nam Mô Bảo Kiên Minh Phật - Nam Mô Lê Ðà Bộ Phật
- Nam Mô Tùy Nhựt Phật - Nam Mô Thanh Tịnh Phật - Nam Mô Minh Lực Phật - Nam Mô
Công Ðức Tụ Phật - Nam Mô Cụ Túc Ðức Phật - Nam Mô Ðoan Nghiêm Hải Phật - Nam
Mô Tu Di Sơn Phật - Nam Mô Hoa Thí Phật - Nam Mô Vô Trước Trí Phật - Nam Mô Vô
Biên Tòa Phật - Nam Mô Ái Trí Phật - Nam Mô Bàn Ðà Nghiêm Phật - Nam Mô Thanh
Tịnh Trụ Phật - Nam Mô Sanh Pháp Phật - Nam Mô Tướng Minh Phật - Nam Mô Tư Duy
Lạc Phật - Nam Mô Lạc Giải Thoát Phật - Nam Mô Tri Ðạo Lý Phật - Nam Mô Ða Văn
Hải Phật - Nam Mô Trì Hoa Phật - Nam Mô Bất Tùy Thế Phật - Nam Mô Hỷ Chúng Phật
- Nam Mô Khổng Tước Âm Phật - Nam Mô Bất Thối Một Phật - Nam Mô Ðoạn Hữu Ái Cấu
Phật - Nam Mô Oai Nghi Tế Phật - Nam Mô Chư Thiên Lưu Bố Phật - Nam Mô Tùy Sư
Hành Phật - Nam Mô Hoa Thủ Phật - Nam Mô Tối Thượng Thí Phật - Nam Mô Phá Oán
Tặc Phật - Nam Mô Phú Ða Văn Phật - Nam Mô Diệu Quốc Phật - Nam Mô Xí Thạnh
Vương Phật - Nam Mô Sư Tử Trí Phật - Nam Mô Nguyệt Xuất Phật - Nam Mô Diệt Ám
Phật - Nam Mô Vô Ðộng Phật - Nam Mô Thứ Ðệ Hành Phật - Nam Mô Âm Thanh Trị Phật
- Nam Mô Kiềâu Ðàm Phật - Nam Mô Thế Lực Phật - Nam Mô Thân Tâm Trụ Phật - Nam
Mô Thường Nguyệt Phật - Nam Mô Giác Ý Hoa Phật - Nam Mô Nhiêu Ích Vương Phật -
Nam Mô Thiện Oai Ðức Phật - Nam Mô Trí Lực Ðức Phật - Nam Mô Thiện Ðăng Phật -
Nam Mô Kiên Hạnh Phật - Nam Mô Thiên Âm Phật - Nam Mô Phước Ðức Ðăng Phật - Nam
Mô Nhựt Diện Phật - Nam Mô Bất Ðộng Tụ Phật - Nam Mô Giới Minh Phật - Nam Mô
Trụ Giới Phật - Nam Mô Phổ Nhiếp Thọ Phật - Nam Mô Kiên Xuất Phật - Nam Mô An
Xà Na Phật - Nam Mô Tăng Ích Phật - Nam Mô Hương Minh Phật - Nam Mô Vi Lam Minh
Phật - Nam Mô Niệm Vương Phật - Nam Mô Mật Bát Phật - Nam Mô Vô Ngại Tướng Phật
- Nam Mô Chí Diệu Ðạo Phật - Nam Mô Tín Giới Phật - Nam Mô Lạc Thật Phật - Nam
Mô Minh Pháp Phật - Nam Mô Cụ Oai Ðức Phật - Nam Mô Ðại Từ Phật - Nam Mô Thượng
Từ Phật - Nam Mô Nhiêu Ích Tuệ Phật - Nam Mô Cam Lồ Vương Phật - Nam Mô Di Lầu
Minh Phật - Nam Mô Thánh Tán Phật - Nam Mô Quảng Chiếu Phật - Nam Mô Trì Thọ
Phật - Nam Mô Kiến Minh Phật - Nam Mô Thiện Hạnh Báo Phật - Nam Mô Thiện Hỷ
Phật - Nam Mô Vô Diệt Phật - Nam Mô Bảo Minh Phật - Nam Mô Cụ Túc Danh Xưng
Phật - Nam Mô Lạc Phúc Ðức Phật - Nam Mô Công Ðức Hải Phật - Nam Mô Tận Tướng
Phật - Nam Mô Ðoạn Ma Phật - Nam Mô Tận Ma Phật - Nam Mô Quá Suy Ðạo Phật - Nam
Mô Bất Hoại Ý Phật - Nam Mô Thủy Vương Phật - Nam Mô Tịnh Ma Phật - Nam Mô
Chúng Thượng Vương Phật - Nam Mô Ái Minh Phật - Nam Mô Phước Ðăng Phật - Nam Mô
Bồ Ðề Tướng Phật - Nam Mô Ðại Oai Lực Phật - Nam Mô Thiện Diệt Phật - Nam Mô Phạm
Mạng Phật - Nam Mô Trí Hỷ Phật - Nam Mô Thần Tướng Phật - Nam Mô Như Chúng
Vương Phật - Nam Mô Chủng Chủng Sắc Tướng Phật - Nam Mô Ái Nhựt Phật - Nam Mô
La Hầu Nguyệt Phật - Nam Mô Vô Tướng Tuệ Phật - Nam Mô Dược Sư Vương Phật - Nam
Mô Trì Thế Lực Phật - Nam Mô Diễm Tuệ Phật - Nam Mô Hỷ Minh Phật - Nam Mô Hảo
Âm Phật - Nam Mô Bất Ðộng Thiên Phật - Nam Mô Diệu Ðức Nan Tư Phật - Nam Mô
Thiện Nghiệp Phật - Nam Mô Ý Vô Mậu Phật - Nam Mô Ðại Thí Phật - Nam Mô Danh
Tán Phật - Nam Mô Chúng Tướng Phật - Nam Mô Giải Thoát Nguyệt Phật - Nam Mô Thế
Tự Tại Phật - Nam Mô Vô Thượng Vương Phật - Nam Mô Diệt Si Phật - Nam Mô Ðoạn
Ngôn Luận Phật - Nam Mô Phạm Cúng Dường Phật - Nam Mô Vô Biên Biện Tướng Phật -
Nam Mô Lê Ðà Pháp Phật - Nam Mô Ứng Cúng Dường Phật - Nam Mô Ðộ Ưu Phật - Nam
Mô Lạc An Phật - Nam Mô Thế Ý Phật - Nam Mô Ái Thân Phật - Nam Mô Diệu Túc Phật
- Nam Mô Ưu Bát La Phật - Nam Mô Hoa Anh Phật - Nam Mô Vô Biên Biện Quang Phật
- Nam Mô Tín Thánh Phật - Nam Mô Ðức Tinh Tấn Phật - Nam Mô Chân Thật Phật - Nam
Mô Thiên Chủ Phật - Nam Mô Lạc Cao Âm Phật - Nam Mô Tín Tịnh Phật - Nam Mô Bà
Kỳ La Ðà Phật - Nam Mô Phước Ðức Ý Phật - Nam Mô Bất Thuấn Phật - Nam Mô Thuận
Tiên Cổ Phật - Nam Mô Tụ Thành Phật - Nam Mô Sư Tử Du Phật - Nam Mô Tối Thượng
Nghiệp Phật - Nam Mô Tín Thanh Tịnh Phật - Nam Mô Hạnh Minh Phật - Nam Mô Long
Âm Phật - Nam Mô Trì Luân Phật - Nam Mô Tài Thành Phật - Nam Mô Thế Ái Phật -
Nam Mô Ðề Xaù Phật - Nam Mô Vô Lượng Bảo Danh Phật - Nam Mô Vân Tướng Phật -
Nam Mô Tuệ Ðạo Phật - Nam Mô Thuận Pháp Trí Phật - Nam Mô Hư Không Âm Phật -
Nam Mô Thiện Nhãn Phật - Nam Mô Vô Thắng Thiên Phật - Nam Moâ Châu Tịnh Phật -
Nam Mô Thiện Tài Phật - Nam Mô Ðăng Diễm Phật - Nam Mô Bảo Âm Thinh Phật - Nam
Mô Nhân Chủ Vương Phật - Nam Mô Bất Tư Nghì Công Ðức Quang Phật - Nam Mô Tùy
Pháp Hành Phật - Nam Mô Vô Lượng Hiền Phật - Nam Mô Bảo Danh Văn Phật - Nam Mô
Ðắc Lợi Phật - Nam Mô Thế Hoa Phật - Nam Mô Cao Ðảnh Phật - Nam Mô Vô Biên Biện
Tài Thành Phật - Nam Mô Sai Biệt Tri Kiến Phật - Nam Mô Sư Tử Nha Phật - Nam Mô
Pháp Ðăng Cái Phật - Nam Mô Mục Kiền Liên Phật - Nam Mô Vô Ưu Quốc Phật - Nam
Mô Ý Tư Phật - Nam Mô Pháp Thiên Kỉnh Phật - Nam Mô Ðoạn Thế Lực Phật - Nam Mô
Cực Thế Lực Phật - Nam Mô Diệt Tham Phật - Nam Mô Kiên Âm Phật - Nam Mô Thiện
Tuệ Phật - Nam Mô Diệu Nghĩa Phật - Nam Mô Ái Tịnh Phật - Nam Mô Tàm Quý Nhan
Phật - Nam Mô Diệu Kế Phật - Nam Mô Dục Lạc Phật - Nam Mô Lầu Chí Phật Đây là
những danh hiệu các Ðức Phật ra đời trong Hiền Kiếp, nếu những người được nghe
một ngàn danh tự nầy rồi, chí thành lễ bái và quy y thì mau được quả Niết-bàn,
những người có trí tuệ nghe các Danh hiệu Phật, một lòng gìn giữ chớ có buông
bỏ, siêng năng tinh tấn, chớ để mất duyên tốt nầy, mà sa đọa vào vòng ác thú
chịu các khổ não, nên an trụ giữ giới, tùy thuận đa văn thường ưa hạnh viễn ly,
đầy đủ đức nhẫn thâm sâu; người được được gặp ngàn Ðức Phật nầy, nhờ thường trì
tụng lễ lạy ngàn Danh hiệu Phật. Thời diệt được các tội chướng đã tạo trong vô
lượng A-tăng-kỳ kiếp. Quyết được Tam-muội thần thông, trí tuệ vô ngại và các
pháp môn Ðà-la-ni như chư Phật, tùy nghi thuyết pháp theo tất cả các kinh thơ,
các trí tuệ đều hợp với pháp Tam-muội. Thường cầu tu tập pháp Tam-muội, thường
làm hạnh thanh tịnh, chớ sanh lòng khi dối, ôm giữ lòng ghen ghét, rời bỏ lợi
danh, thường hành sáu hòa kỉnh, công hạnh được như vậy, tất mau chứng được các
pháp Tam-muội. Kinh Một Ngàn Danh Hiệu Phật Ở Hiện Tại Hiền Kiếp Nam Mô Một
Ngàn Đức Phật Như Lai Hiền Kiếp
------------------------
Kinh Sám Hối
KINH SÁM HỐI (1)
Cuộc danh lợi là phần thưởng quí,
Đấng Hóa Công xét kỹ ban ơn.
Lòng đừng so thiệt tính hơn,
Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi
Người sang cả là vì duyên trước,
Kẻ không phần luống ước cầu may.
Sang giàu chẳng khác như mây,
Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.
Việc sanh tử như dường chớp nháng,
Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.
Giữ cho trong sạch linh hồn,
Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.
Điều họa phước không hay tìm tới,
Tại mình dời nên mới theo mình.
Cũng như bóng nọ tùy hình,
Dữ lành hai lẽ công bình thưởng răn.
Khi vận thới lung lăng chẳng kể,
Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu.
Sao bằng ở phải buổi đầu,
Thần minh chánh trực có đâu tư vì.
Người làm phước có khi mắc nạn,
Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.
Ấy là nợ trước còn mang,
Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.
Nếu vội trách người trên thì đọa,
Cũng có khi tai họa trả liền
Đó là báo ứng nhãn tiền,
Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.
Lo danh vọng hao mòn thân thể,
Ham làm giàu của để bằng non.
Một mai nhắm mắt đâu còn,
Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng.
Trên đầu có bủa giăng Thần, Thánh,
Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.
Làm lành đặng hưởng phước duyên,
Trong lòng nham hiểm lộc quyền giảm thâu.
Đừng tính kế độc sâu trong dạ,
Mà gổ ganh oán chạ thù vơ.
Trái oan nào khác mối tơ,
Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.
Thấy hình khổ dạ ta đâu nỡ,
Khuyên làm lành trừ đỡ tội căn.
Quấy rồi phải biết ăn năn,
Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.
Hãy có dạ kỉnh già thương khó,
Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.
Xót thương đến kẻ tật nguyền,
Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi.
Làm con phải trau dồi hiếu đạo,
Trước là lo trả thảo mẹ cha.
Lòng thành thương tưởng ông bà,
Nước nguồn cây cội mới là tu mi.
Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,
Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.
Ở sao đáng phận đạo dâu,
Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.
Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,
Không kiêng chồng khi dể công cô.
Ấy là những gái hung đồ,
Xúi chồng tranh cạnh hồ đồ sân si.
Tánh ngoan ngạnh không vì cô bác,
Thói lăng loàn bạn tác khinh khi.
Ngày sau đọa chốn âm ty,
Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.
Người tai mắt đạo nhà khá giữ,
Nghĩa anh em cư xử thuận hòa.
Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
Kính anh mến chị thì là phận em.
Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,
Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.
Cũng là một gốc sanh ra,
Gồm bao nâng đỡ ruột rà thương nhau.
Người trung trực lo âu nợ nước,
Hưởng lộc vua tìm chước an bang.
Chớ làm con giặc tôi loàn,
Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà.
Phận làm tớ thật thà trung tín,
Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.
Áo cơm no ấm hằng ngày,
Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.
Đừng gặp việc câu mâu biếng nhác,
Mà quên lời phú thác dặn dò.
Trước người giả bộ siêng lo,
Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.
Phải chừa thói loài ong tay áo,
Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà.
Gìn lòng ngay thẳng thật thà,
Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.
Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại,
Đừng gian mưu hãm hại người hiền.
Anh em bằng hữu kết nguyền,
Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì.
Chớ thấy khó mà khi mà thị,
Gặp người giàu mà vị mà nâng.
Dầu khi gặp lúc gian truân,
Cũng đồng giúp ích chớ đừng mặt ngơ.
Làm người phải kỉnh thờ Thần, Thánh.
Giữ lời nguyền tâm tánh tưởng tin
Hễ là niệm Phật tụng kinh
Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.
Chừa thói xấu đảo điên trong dạ
Muôn việc chi chẳng khá sai lời
Dối người nào khác dối Trời,
Trời đâu dám dối ra đời ngỗ ngang.
Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng.
Mà dể duôi sanh biến lăng loàn,
Con người có trí khôn ngoan,
Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi,
Phải cho biết kỉnh vì trên trước
Đừng buông lời lấn lướt hồ đồ
Thuận cùng chú bác cậu cô,
Bà con chòm xóm ra vô khiêm nhường.
Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh
Đừng chỗ đông buông tánh quá vui
Cợt người ra dạ dể duôi,
Sanh điều chích mích đâu nguôi dạ hờn.
Khi tế tự chớ lờn chớ dể
Việc quan, hôn thủ lễ nghiêm trang
Gìn lòng chẳng khá lăng loàn.
Lễ nghi vẹn giữ vững vàng chớ quên.
Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức.
Phước ấm no túc thực túc y.
Thấy người gặp lúc tai nguy,
Ra tay tế độ ấy thì lòng nhơn.
Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,
Thấy trên đường miểng bát, miểng chai,
Hoặc là đinh nhọn, chông gai,
Mau tay lượm lấy đoái hoài kẻ sau.
Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn
Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền
Bắc cầu đắp sửa đường liền,
Kẻ qua người lại bước yên gọn gàng.
Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,
Rán tập thành sửa tánh từ hòa.
Việc lành chẳng khá bỏ qua,
Tuy là nhỏ nhít cũng là công phu.
Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,
Lâu ngày dồn tính đếm có dư.
Phước nhiều tội quá tiêu trừ,
Phép Trời thưởng phạt không tư chẳng vì.
Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,
Thường dạn làm tội lại hằng hà.
Vì chưng tựu thiểu thành đa,
Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào.
Giữa bụi thế giữ sao khỏi vấy
Biết ăn năn xét lấy sửa lòng.
Làm người nhơn nghĩa xử xong
Rủi cho gặp lúc long đong chẳng sờn.
Hễ biết nghĩa thọ ơn chẳng bội
Giúp cho người chớ vội khoe ra,
Việc chi cũng có chánh tà,
Làm điều phải nghĩa lánh xa vạy vò.
Khi gặp chuyện khá dò xét cạn,
Liệu sức mình cho hẳn sẽ làm,
Chớ đừng thấy của dấy tham,
Giục người làm quấy ắt cam đồng hình.
Ở ngay thẳng Thần minh bảo hộ,
Nết xéo xiên gặp chỗ rạc tù,
Trong đời rất hiếm võ phu,
Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.
Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy,
Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.
Lương tâm thường xét cho rành,
Của không phải nghĩa chớ sanh lòng tà.
Người quân tử chẳng thà chịu khổ,
Đâu làm điều nhục tổ hổ tông?
Đứa ngu thấy của thì mong,
Không gìn tội lỗi phép công nước nhà.
Bày chước độc, xúi ra việc quấy,
Tổn cho người mà lấy lợi riêng.
Hễ nghe khua động đồng tiền,
Sửa ngay làm vạy không kiêng chút nào.
Người nghèo khổ biết sao than kể,
Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền,
Làm quan tính kế đảo điên,
Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.
Thả tôi tớ thôn lân húng hiếp,
Bức gái lành, ép thiếp đòi hầu,
Trong lòng mưu chước rất sâu,
Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi.
Gái xướng kỵ, trai thì du đảng,
Phá tan hoang gia sản suy vi.
Làm người phải khá xét suy,
Của rơi chớ lượm, tham thì phải thâm.
Còn một nỗi gian dâm đại tội,
Lấy vợ người làm lỗi tiết trinh.
Tuy là Trời Đất rộng thinh,
Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.
Lương tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,
Mới biệt phân sừng đội lông mang
Việc lành là bóng khuất xương tan tiếng
còn.
Gái tiết hạnh giữ tròn danh giá,
Chớ học đòi mèo mả gà đồng.
Làm điều nhục nhã tổ tông,
Tiếng nhơ giặt rửa biển sông đặng nào.
Trai trung hiếu sửa trau ba mối,
Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng
Hung hoang tội báo nghiệt căn,
Kẻ chê người thị không bằng cỏ cây.
Thà tiết kiệm hằng ngày no đủ,
Tánh siêng năng lam lũ làm ăn.
Lòng chừa biếng nhác kiêu căng
Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.
Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,
Đức háo sanh Tiên, Phật một màu.
Thượng cầm hạ thú lao xao,
Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.
Nó cũng muốn như mình đặng sống,
Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.
Bền công kinh sách xem coi,
Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.
Chớ kiếm thế gọi ngoan xảo trá,
Lưới rập chim, thuốc cá, đốt rừng
Thương thay phá noãn lẫy lừng,
Tội căn báo ứng biết chừng nào an.
Lại có kẻ hung hoang ác nghiệt,
Cướp giựt rồi chém giết mạng người
Đoàn năm, lũ bảy dạo chơi,
Hiếp người lương thiện, phá đời hại dân.
Tua khá tưởng thương lần nòi giống
Hãy xét vì mạng sống khó cầu.
Cũng đừng bài bạc lận nhau,
Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.
Phải hiểu biết máy sâu họa kín,
Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua.
Thường ngày tuần khắp xét tra,
Phạt người hung ác đọa sa A Tỳ.
Sống dương thế hành thì căn bịnh,
Xui tai nàn dấp dính theo mình.
Ăn năn khử ám hồi minh,
Từ bi Trời Phật rộng tình xét cho.
Đừng cố oán thầm lo gây họa,
Đem lòng thù hăm dọa rắp đường.
Đốt nhà, tháo cống, phá mương,
Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.
Thêm liều mạng đặng toan đổ tội,
Cho người hiền chịu lỗi vương mang.
Khi hồn lìa khỏi trần gian,
Hóa ra ngạ quỉ cơ hàn khổ thân.
Đời nhiều kẻ khi Thần, thị Thánh,
Ám muội lòng tánh hạnh gổ ganh
Thấy ai làm phải làm lành,
Xiểm gièm cho đặng khoe danh của mình.
Lại còn có tánh tình hiểm độc,
Xúi phân chia thân tộc ruột rà.
Làm cho chồng vợ lìa xa,
Cả đời nghiệt báo oan gia chẳng rời.
Muốn tránh đặng khỏi nơi tội quá,
Lánh kẻ tà chẳng khá nên gần.
Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,
Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.
Đêm thanh vắng chớ toan mưu dối,
Xúi trẻ thơ lầm lỗi ngỗ ngang.
Âm đài gông tróng sẵn sàng,
Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.
Các thơ truyện huê tình xé hủy,
Kẻo để đời làm lụy luân thường
Nói lời tục tĩu không nhường,
Tội hành cắt lưỡi trăm đường ghê thay!
Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy
Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.
Ăn gian xớt bớt cho mình,
Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.
Thêm những sãi giả nương cửa Phật,
Của thập phương châu cấp thê nhi.
Ngày sau đọa lạc Âm ty,
Thường thường khảo kẹp chẳng khi nào rời.
Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,
Đốt ra tro bỏ chảy dòng sông.
Thủy triều vận tải biển đông,
Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.
Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,
Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong.
Làm ra lúa gạo dày công,
Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.
Nhờ Viêm Đế đức cao ơn nặng,
Tìm lúa khoai người đặng no lòng.
Ngày ngày vọng niệm chớ vong,
Chẳng nên hủy hoại mới phòng khỏi hoang.
Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa
Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.
Chờ khi lúa phát giá cao,
Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.
Ơn trợ giúp khá lo đền báo,
Giữ vẹn tròn nghĩa đạo với đời
Túng cùng vay mượn của người,
Vui lòng tính trả vốn lời cho kham.
Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,
Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.
Luân hồi thưởng phạt rất mầu,
Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền.
Người phú túc vun nền âm đức,
Lấy lòng nhơn giúp sức trợ nghèo.
Chớ sanh chước hiểm hẹp eo
Lời tăng quá vốn kẻ nghèo xiết than.
Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,
Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn.
Phật Trời nhơn vật đồng thương,
Có đâu hưởng của bất lương mà mời.
Phận làm chủ lấy lời nhỏ nhẹ,
Mà nghiêm trừng mấy kẻ tôi đòi.
Đừng lòng nham hiểm hẹp hòi,
Buông lời chửi rủa đòn roi không từ.
Tánh độc ác tội dư tích trữ,
Chốn Âm cung luật xử nặng nề.
Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,
Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.
Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,
Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.
Thánh hiền kinh sách dạy bày,
Lòng người ám muội lỗi gây ra hoài.
Kẻ lỗ mãng chê bai khinh dể,
Rằng thác rồi còn kể ra chi.
Nhãn tiền trả quả tức thì,
Tội dư con cháu một khi đền bồi.
Chớ quấy tưởng luân hồi phi lý,
Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.
Thi hài như gỗ biết gì,
Linh hồn là chủ thông tri việc đời.
Lúc chung mạng dứt hơi, hồn xuất
Quỉ vô thường sẵn chực đem đi.
Dắt hồn đến chốn Âm ty,
Xét xem công quả chẳng ly mảy hào.
Người lương thiện ra vào thong thả.
Kẻ tội nhiều đày đọa rất minh.
Phật, Trời phép lạ hiển linh,
Hành cho tan giác hườn hình như xưa.
Con bất hiếu xay cưa đốt giã,
Mổ bụng ra phanh rã tim gan.
Chuyển thân trở lại trần gian,
Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.
Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,
Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.
Vì chưng trinh tiết chẳng gìn,
Có chồng còn lại ngoại tình với trai.
Kẻ tham lợi cột mai cột mối,
Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.
Dỗ dành, rù quến gái non,
Làm hư hoại tiết cháu con nhà người.
Lòng lang độc vui cười hớn hở,
Chốn Diêm đình phạt quở trừng răn.
Gông kềm khảo kẹp lăng xăng,
Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.
Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,
Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.
Giáo gươm bén nhọn tư bề,
Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.
Hành đến chết hườn hồn sống lại,
Cho đầu thai ở tại thanh lâu.
Ngày đêm đưa rước chực chầu,
Công bình Thiên Đạo phép mầu chí linh.
Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh.
Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.
Ấy là phạt kẻ lường cân,
Đo gian, đong thiếu, Thánh Thần chẳng
kiêng.
Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,
Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.
Hình nầy phạt kẻ dại ngây,
Khinh khi Tam giáo đọa đày thế ni.
Ao nước nóng sôi thì sục sục,
Dầm cho người rã rục thịt xương.
Cũng vì lòng dạ vô lương,
Đệ huynh bất mục chẳng thương đồng bào.
Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,
Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.
Thây người máu chảy dầm dề,
Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.
Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,
Tớ phản thầy, quan lại bất trung.
Hành rồi giam lại Âm cung,
Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.
Hình Bào lạc cột đồng vòi vọi,
Đốt lửa hồng ánh giọi chói lòa.
Trói người vào đó xát chà,
Vì chưng hung bạo đốt nhà bắn săn.
Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu,
Gặp tội nhơn quào quấu xé thây.
Ấy vì lòng dạ chẳng ngay,
Giết người lấy của bị nay hình nầy.
Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn
Xô người vào, lội lặn nhờm thay!
Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,
Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.
Để hành kẻ chứa sâu, lường của
Trù ếm người, chưởi rủa Tổ tông.
Đồ dơ giặt đổ rạch sông,
Đương khi uế trược thẳng xông chỗ thờ.
Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,
Phơi áo quần chẳng nể Tam quan.
Buông lời tục tĩu dâm loàn,
Lâu mau, nặng nhẹ, chịu mang tội nầy.
Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,
Hơi tanh hôi thường bữa lẫy lừng.
Gạo cơm hủy hoại quen chừng,
Phạt ăn dơ dáy mới ưng tội hình.
Cột trói ngược quá kinh rất lạ,
Quỉ Dạ xoa đánh vả kẹp cưa.
Vì chưng chưởi gió mắng mưa,
Kêu tên Thần, Thánh chẳng chừa chẳng kiêng.
Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,
Tra tội nhơn, gian giảo ngược ngang.
Hành người bế địch, trợ hoang,
Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo.
Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,
Cầm hồn oan rên xiết khóc than.
Dương gian ngỗ nghịch lăng loàn,
Liều mình tự vận không màng thảo ngay.
Xuống Địa ngục đọa đày hành mãi,
Đúng số rồi còn phải luân hồi.
Hóa công xem xét đền bồi,
Lành siêu dữ đọa thêm nhồi tội căn.
Cầu Nại Hà bắc giăng sông lớn,
Tội nhơn qua óc rởn dùn mình.
Hụt chơn ván lại gập ghình,
Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.
Nhiều thứ rắn mặt mày dữ tợn,
Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.
Gặp thây nuốt sống ăn tươi,
Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.
Trong núi lửa bay hơi tanh khét,
Linh hồn người đầy nghẹt trong ngoài!
Phạt răn quến gái, dụ trai,
Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.
Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,
Biết lạc lầm sám hối tội căn.
Tu tâm sửa tánh ăn năn,
Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.
Ngặt có kẻ tưởng Trời tin Phật,
Mà trong lòng chẳng thật kính thành.
Lâm nguy nguyện vái làm lành,
Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong.
Chớ thái quá đừng lòng bất cập,
Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.
Làm lành, xem phải, nói ngay,
Giữ ba điều ấy thiệt rày phước duyên.
Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,
Câu văn từ luận biện thật thà.
Chẳng dùng những tiếng sâu xa,
E không hiểu thấu, diễn ra ích gì?
Chớ buông tiếng thị phi khinh dể,
Rán làm lành phước để cháu con.
Làm người nhơn nghĩa giữ tròn,
Muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa.
------------------------
KINH VU LAN
Phật nói Kinh Vu Lan Bồn
Ta từng nghe lời tạc như vầy:
Một thuở nọ Thế-tôn an-trụ
Xá-vệ thành Kỳ-thụ viên trung,
Mục-liên mới đặng lục-thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân.
Công dưỡng-dục thâm-ân dốc trả,
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,
Làm con hiếu-hạnh vi tiên,
Bèn dùng huệ-nhãn dưới trên kiếm tầm.
Thấy vong-mẫu sanh làm ngạ-quỷ,
Không uống ăn tiều-tụy hình-hài.
Mục-liên thấy vậy bi-ai,
Biết mẹ đói khát ai-hoài tình thâm.
2. Lo phẩm-vật đem dâng từ-mẫu,
Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu.
Thấy cơm mẹ rất lo âu,
Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.
Lòng bỏn-xẻn tiền-căn chưa dứt,
Sợ chúng ma cướp dựt của bà.
Cơm đưa chưa tới miệng đà,
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.
Thấy như vậy âu-sầu thê-thảm,
Mục-kiền-liên bi-cảm xót thương,
Mau mau về đến giảng-đường,
Bạch cùng sư-phụ tìm phương giải nàn.
3. Phật mới bảo rõ ràng căn-cội,
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu.
Dầu ông thần-lực nhiệm-mầu,
Một mình không thể ai cầu được đâu.
Lòng hiếu-thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang đồn thấu đến cửu-thiên
Cùng là các bực Thần-kỳ
Tà, ma, ngoại-đạo, bốn vì Thiên-vương
Cộng ba cõi sáu phương tu-tập,
Cũng không phương cứu-tế mẹ ngươị
Muốn cho cứu đặng mạng người,
Phải nhờ thần-lực của mười phương Tăng.
4. Pháp cứu-tế ta toan giải nói
Cho mọi người thoát khỏi ách-nàn
Bèn kêu Mục-thị đến gần,
Truyền cho diệu-pháp ân-cần thiết thi
Rằm tháng bảy là ngày Tự-tứ
Mười phương Tăng đều dự lễ này
Phải toan sắm sửa chớ chầy
Thức ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu,
Món ăn tinh-sạch báu mầu
Ðựng trong bình-bát vọng-cầu kính dâng
Chư Ðại-đức mười phương thọ-thực
Trong bảy đời sẽ đặng siêu thiên
Lại thêm cha mẹ hiện-tiền
Ðặng nhờ phước-lực tiêu-khiên ách-nàn.
5. Vì ngày ấy Thánh-tăng đều đủ
Dầu ở đâu cũng tụ-hội về.
Như người Thiền-định sơn-khê
Tránh điều phiền-não chăm về thiền-na
Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả
Công tu-hành nguyện thỏa vô-sanh
Hoặc người thọ hạ kinh-hành
Chẳng ham quyền-quý ẩn-danh lâm-tòng
Hoặc người đặng lục-thông tấn-phát
Và những hàng Duyên-giác, Thanh-văn
Hoặc chư Bồ-tát mười phương
Hiện hình làm sãi ở gần chúng-sanh
Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh
Ðạo-đức dày, chánh-định chơn-tâm
Tất cả các bực Thánh, Phàm
Ðồng lòng thọ-lãnh bát cơm lục-hòa
6. Người nào có sắm ra vật-thực
Ðặng cúng-dường Tự-tứ Tăng thời
Hiện-tiền phụ-mẫu của người
Bà con quyến-thuộc thảy đều nhờ ơn
Tam-đồ khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh-nhàn hưởng-thọ tự-nhiên.
Như còn cha mẹ hiện-tiền
Ðó nhờ cũng đặng bá niên thọ-trường
Như cha mẹ bảy đời quá-vãng
Sẽ hóa-sanh về cõi thiên-cung
Người thời tuấn-tú hình-dung
Hào-quang chiếu sáng khắp cùng châu-thân
7. Phật dạy bảo mười phương Tăng-chúng
Phải tuân theo thể-thức sau này:
Trước khi thọ thực đàn chay
Phải cầu chú-nguyện cho người tín-gia.
Cầu thất-thế mẹ cha thí-chủ
Ðịnh tâm-thần quán đủ đừng quên
Cho xong ý-định hành-thiền
Mới dùng phẩm-vật đàn-tiền hiến-dâng.
Khi thọ-dụng nên an vật-thực
Trước Phật-đài hoặc tự tháp trung:
Chư Tăng chú nguyện viên dung
Sau rồi tự-tiện thọ dùng bữa trưa
8. Pháp cứu-tế Phật vừa nói dứt
Mục-liên cùng Bồ-tát chư Tăng
Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng
Mục-liên cũng hết khóc thương rầu buồn
Mục-liên mẫu cũng trong ngày ấy
Kiếp khổ về ngạ-quỷ được tan
Mục-liên bạch với Phật rằng:
"Mẹ con nhờ sức Thánh-Tăng khỏi nàn
Lại cũng nhờ oai thần Tam-bảo
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra
Như sau đệ-tử xuất-gia
Vu-lan-bồn pháp dùng mà độ sanh
Ðộ cha mẹ còn đương tại thế
Hoặc bảy đời có thể đặng không ?"
Phật rằng: "Lời hỏi rất thông
Ta vừa muốn nói con dùng hỏi theo
9. Thiện-nam-tử, tỳ-kheo nam nữ
Cùng quốc-vương, thái-tử, đại-thần
Tam-công, tể-tướng, bá-quan
Cùng hàng lê-thứ vạn dân cõi trần
Như chí muốn đền ơn cha mẹ
Hiện-tại cùng thất-thế tình thâm
Ðến rằm tháng bảy mỗi năm
Sau khi kiết-hạ chư Tăng tựu về
Chính ngày ấy Phật đà hoan-hỉ
Phải sắm sanh bá vị cơm canh
Ðựng trong bình-bát tinh-anh
Chờ giờ Tự-tứ chúng Tăng cúng-dường
Ðặng cầu-nguyện song-đường trường-thọ
Chẳng ốm đau, cũng chẳng khổ chi
Cùng cầu thất-thế đồng thì
Lìa nơi ngạ-quỷ sanh về nhơn, thiên
Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp
Lại xa lìa nạn khổ cực thân
Môn-sanh Phật-tử ân-cần
Hạnh tu hiếu-thuận phải cần phải chuyên
10. Thường cầu-nguyện thung-huyên an-hảo
Cùng bảy đời phụ-mẫu siêu-sanh
Ngày rằm tháng bảy mỗi năm
Vì lòng hiếu-thảo thâm-ân phải đền
Lễ cứu-tế chí-thành sắp đặt
Ngỏ cúng-dường chư Phật chư Tăng
Ấy là báo đáp thù ân
Sanh-thành dưỡng-dục song-thân buổi đầu
Ðệ-tử Phật lo âu gìn-giữ
Mới phải là Thích-tử Thiền-môn
Vừa nghe dứt pháp Lan-bồn
Môn-sanh tứ-chúng thảy đồng hỉ-hoan
Mục-liên với bốn ban Phật-tử
Nguyện một lòng tín-sự phụng-hành !
------------------------
Kinh Cúng Cửu Huyền Thất Tổ
CÚNG CỬU HUYỀN THẤT TỔ
Thành kính lạy Cửu huyền thất tổ
Ngõ đáp ơn báo bổ sanh thành
Con quy y Phật tu hành
Cửu huyền thất tổ lòng thành chứng tri
Noi theo hạnh từ bi của Phật
Bỏ dứt đi những tật xấu xa
Trau giồi đức hạnh thuần hòa
Đạo thành cứu độ mẹ, cha, Cửu huyền
Nay phẩm vật hiện tiền dâng cúng
Hương, đăng, hoa chúc tụng cầu xin
Cửu huyền thất tổ hương linh
Chứng lòng hiếu thảo ân sinh thuở đầu
Công dạy dỗ cao sâu thăm thẳm
Công dưỡng nuôi khó gẫm gì hơn
Ăn cay, uống đắng không sờn
Vì con đau khổ không hờn phiền chi
Cha mẹ rất từ bi hà hải
Nội ngoại đồng bác ái tình thương
Cửu huyền thất tổ đồng nương
Từ đời vô thỉ khôn lường kiếp sinh
Ân dưỡng dục minh minh như hải
Ân sanh thành tợ thái Sơn cao
Con đây muốn đáp công lao
Đền ơn, trả nghĩa thế nào cho xong
Lời Phật dạy mênh mông biển khổ
Cõi Ta bà không chỗ dựa nương
Chúng sinh vì bởi tình thương
Tình ân, tình ái mà vương nghiệp sầu
Sinh tử mãi biết đâu mà kể
Cứ trầm luân trong bể ái hà
Cũng vì bản ngã chấp ta
Tham lam, sân giận, cùng là si mê
Những tội lỗi không hề dứt bỏ
Đường tử sinh nên khó bước qua
Làm con muốn cứu mẹ cha
Cửu huyền thất tổ, ông bà đền ơn
Đem phẩm vật cúng dâng Tam bảo
Nhờ chư Tăng tâm đạo cầu nguyền
Cầu cho Thất tổ Cửu huyền
Siêu sinh Tịnh độ phước duyên đủ đầy
Ai muốn đáp công thầy dạy dỗ
Hay đền ơn Thất tổ Cửu huyền
Chúng sinh tất cả các miền
Thì nên phát đại lời nguyền độ tha
Trước xuất thế lìa xa cõi tục
Sau diệt tiêu lòng dục, tánh phàm
Chẳng còn ưa chuộng, muốn ham
Thân tâm thanh tịnh, già lam dựa kề
Tu chứng đắc Bồ đề Phật quả
Độ chúng sanh tất cả siêu thăng
Vượt lên cửu phẩm thượng tầng
Là phương trả nghĩa đáp bằng công lao
Ai hiếu tử mau mau ghi nhớ
Muốn đáp đền mối nợ từ xưa
Cần nên tu niệm sớm, trưa
Công dày, quả mãn phước thừa báo ân.
2. HỒI HƯỚNG
Phẩm kinh con đọc vừa xong
Xin đem hồi hướng cầu đồng thế gian
Nguyện cho dương thới bình an
Âm siêu ba cõi Tây phang đặng về
Người người thoát khỏi trầm mê
Chóng thành quả giác, vẹn bề đạo chân.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( 3 lần
).
------------------------
ĐÀ LA NI KINH
LINH SƠN HỘI THƯỢNG KINH
Đức Bổn Sư
---o0o---
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT (niệm 3
lần)
---o0o---
ĐIỂM ĐĂNG CHÚ
Gia gia niệm phật điểm ngân đăng, hỏa thời
đương nguyện chúng sanh, phổ chiếu chư Phật mãn đường quang minh.
NAM MÔ ĐIỂM ĐĂNG VƯƠNG LỘ BỒ TÁT MA HA TÁT
(niệm 3 lần)
---o0o---
NGUYỆN HƯƠNG CHÚ
Nam mô Phật Pháp Tăng bảo thượng hương, Bửu
Sơn Kỳ Hương thượng hương, Nam mô Giới hương, Huệ hương, Định hương, mỗi nhựt
phần hương thấu tới thập phương, tạ Thiện, tạ Địa, tạ Quân vương. Nguyện Cửu
Huyền Thất Tổ độ gia nương, phụ mẫu tại đường tăng long phước thọ, phụ mẫu quá
khứ trực vãng Tây phương, xứ xứ điền hòa thục thục, đẳng nguyện giai do phước
phước thọ trường.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (niệm 3 lần)
---o0o---
KHAI CHUNG CHÚ
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giái,
thiết vi u ám tất diêu văn. Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhứt thiết
chúng sanh thành chánh giác. Văn chung thinh phiền não khinh, trí huệ chưởng Bồ
đề sanh, ly địa ngục xuất hỏa khanh. Nguyện thành Phật độ chúng sanh.
ÁN ĐÀ RA ĐẾ DẠ TA BÀ HA (niệm 3 lần)
---o0o---
KHAI MÕ CHÚ.
Chung trì mật niệm tẩy trần tâm, mộc ngư
khuyết hướng chuyển tam luân, thánh chúng lục hòa kiên bối diệp, tứ sanh cửu
hữu tận triêm ân.
ÁN PHẠT NHỰT RA TÁ HA. (niệm 3 lần)
---o0o---
LƯ HƯƠNG TÁN.
Lư hương xạ nhiệt, pháp giới mông huân, chư
Phật hải hội tất diêu văn, tùy xứ kiết tường vân thành ý phương ân, chư Phật
hiện toàn thân.
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT MA HA TÁT.
(niệm 3 lần)
---o0o---
THẦN CHÚ ĐẠI BI
NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. (niệm
3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà
ra ni, nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da, nam mô a rị da bà lô yết đế thước bát
ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát
bàn ra phạt duệ, số đát na tát đỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà
lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa
mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt
đạt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê lô ca đế, ca ra đế, di hê rị ma ha bồ đề
tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết
mông độ lô độ lô, phạt xà ra đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra
dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra
xá lợi, phạt sa phạt sâm, phật ra xá da, hô lô hô lô hê lỵ, ta ra ta ra, tất rị
tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra
cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha, ma ha tất
đà dạ ta bà ha, tất đà dủ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha, na ra cẩn trì ta bà ha,
ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà
dạ ta bà ha, giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha, ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha,
na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha, ma bà lại thắng yết ra dạ ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a dị da, bà lô yết đế, thước bàn ra
dạ ta bà ha.
Án tất điện đô mạng đa ra bạt đà dạ ta bà
ha (niệm 03 lần).
---o0o---
THỈNH THÁNH HIỀN.
Thành hiện công khấu thỉnh phù xứ vị song
tiền, trực để đáo đầu nguyện, xương khung trần tịch tịch, tốc bái ngã Tiên ông,
tốc bái ngã Tiên Đồng, tập tập tốc giáng Tiên Quân, khai lãng tần lư tẩy thanh
tiển tận tâm thành niên bái. Tiên Thánh cai đường nghiên cánh cú cú sự thiệt
giái biết ngu mông, giáng lâm trần thế, giá hạt đồng chưởng, khai quát lâm
trường, Thiên linh Địa thủy linh linh, tốc giáng oai linh, thú cẩm tiên bồng
lai cánh tý, cẩm tự nhiên trực để đáo đầu nguyên xương khung trần tịch tịch tốc
bái ngã Tiên ông, vô đồ sĩ bần nhơn tọa kiến ngã Tiên ông, giải giả sơn hữu,
sơn hải, sơn thượng, thủy hữu thủy hải trung ta, ngũ long sắc sá a an oanh. Ngô
phụng Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lịnh sắc án oanh.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (niệm 3 lần)
---o0o---
CÚNG DƯỜNG KINH
Cúng dường thanh tịnh pháp Thân Tỳ Lô Giá
Na Phật, viên mãn báo thân Lư Xá Na Phật.
Thiên bá ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đương lai hạ sanh Di Lạc Tôn Phật.
Cực lạc thế giới A Di Đà Phật.
Thập phương tam thế nhứt thiết Chư Phật.
Đại Trí Văn Phật Sư Lợi Bồ Tát.
Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Chư tôn Bồ Tát ma ha tát, ma ha bát nhã ba
la mật đa tam đức lục vị cúng Phật cập tăng pháp giái hữu tình phổ đồng cúng
dường, nhược phạn thực thời đương nguyện chúng sanh, thành việt vi thực pháp hỉ
sung mãn cúng Phật, dĩ ngật đương nguyện chúng sanh giải thoát giải thoát giai
thành cụ chư Phật pháp.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (niệm 3 lần)
---o0o---
BỔ KHUYẾT TÂM KINH
THỊ ĐẠI THẦN CHÚ
Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh, quán
tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhứt thiết khổ ách, xá lợi tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc,
sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị.
Xá lợi tử, thị chư pháp không tướng bất
sanh, bất diệt, bất tăng, bất giảm, thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng,
hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Vô sắc, thinh, hương, vị, xúc,
pháp. Vô nhãn giái, nãi chí vô ý thức giái, vô minh diệt, vô vô minh tận, nãi
chí vô lão tử diệt, vô lão tử tận, vô khổ, tập, diệt, đạo. vô trí, diệt vô đắc,
dĩ vô sở đắc, cố bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô
quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu kiểng nạt bàn,
tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa, cố đắc a nậu đa la tam diiệu tam bồ
đề, cố tri bát nhã ba la mật đa. Thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô
thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư,
cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
YẾT ĐẾ, YẾT ĐẾ, BA LA YẾT ĐẾ, BA LA TĂNG
YẾT ĐẾ, BỒ ĐỀ TÁT BÀ HA.
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH, CHUNG.
---o0o---
CÚNG TRÀ CHÚ.
Võ vương chước lễ châu trà, thanh thủy
hương tuyền hổ phách ba, giải bí ngọc bôi phân thúc úc, cúng dường Phật Thánh
dĩ thiện đa.
NAM MÔ CAM LỒ DƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT. (niệm
3 lần).
---o0o---
CÚNG HOA CHÚ.
Ưu đàm bàt nhã bá liên hoa, cúng dường Phật
Thánh dĩ thiện đa.
NAM MÔ BỬU ĐÀM HOA BỒ TÁT MA HA TÁT. (niệm
03 lần).
THIÊU KIM NGÂN
ỨNG DĨ PHẬT TIÊN KIM NGÂN PHẦN HÓA
Quy Y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng(03 biến)
---o0o---
THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ni
đế, ni ha ca đế, tỳ lê nễ đế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế ta bà ha (07 Biến)
---o0o---
VÃNG SANH THẦN CHÚ
QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN.
Nam mô a di đa bà dạ đa tha dà đa dạ đa
điệc dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất tam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan
đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na, chỉ ca đa lệ ta bà ha.(03 biến)
---o0o---
HỘ PHÁP CHÚ.
Hộ Pháp Di Đà thị chứng minh, thân tựu Phật
tiền tâm như nguyện, tưởng bằng bí chú đắc oai linh, hà sư bất thức trì niệm
luật, thiên kinh vạn quyển tổng giai vô, nhứt tự nẵn mồ tô tất đế minh:
ÁN ĐA RỊ ĐA RỊ MẠNG ĐA MẠNG ĐA HUÂN, TRA RỊ
TA BÀ HA. (niệm 3 lần)
---o0o---
TÁN DƯƠNG CHI.
Dương chi tịnh thủy, biến sái tam thiên,
tánh không bát đức lại nhơn thiên. Pháp giái quảng tăng diên, giảm tội tiêu
khiên, hỏa diệm hóa hồng liên.
NAM MÔ THANH HƯƠNG ĐỊA BỒ TÁT MA HA TÁT.
(niệm 3 lần)
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. (niệm 3
lần)
---o0o---
KHAI KINH KỆ
Vô thương thậm thâm vi diệu pháp, bá thiên
vạn ức nan tao ngộ, ngã kim kiến văn đắc thọ trì, nguyện giải Như Lai chơn
thiệt nghĩa.
Nam mô đại từ đại bi độ tận chúng sanh,
Phật định kỳ linh, thượng đảnh đái Như Lai, Phật khẩu trung thường niệm ba la
ni, tả thủ chấp chi cam lồ sái, hữu thủ chấp chi dương liễu thanh. Triêu niệm
Quan thế Âm Bồ Tát, mộ niệm Quan thế Âm Bồ Tát, niệm niệm tùng tâm khởi, niệm
Phật bất ly tâm.
Nam nhơn niệm đắc Quan Âm chú, huyết bồn
hóa tác bạch liên trì, nữ nhơn niệm đắc Quan Âm chú, huyết bồn hóa tác ngũ chi
liên.
Nam mô Quan thế Âm Bồ Tát, thiên thủ thiên
nhãn Quan thế Âm Bồ Tát, tử trước lâm trung Quan Thế Âm, thanh tịnh Quan Thế
Âm, nguyện giáng lâm linh, thượng giái Thiên Tào giai ủng hộ, hạ đạo Thánh Thần
hạt quy âm.
Phật tại nhơn gian cứu khổ nạn.
Phật tại nhơn giang cứu sanh sản.
Phật giáng ngục trung cứu tội nhơn.
Phật tại giang biên vận lý hiện.
Phật tại giang biên vân lý hưng.
Phật tại giang biên cứu trầm thoàn.
Hỏa lý Bồ Tát, hỏa bất thiêu, thủy lý Bồ
Tát, thủy thượng phù, Thiên la Thần, Địa la Thần, nhơn ly nạn, nạn ly thân,
nhứt thiết tai ương hóa vi trần.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT .
---o0o---
CỨU KHỔ SANH KINH.
Nam mô Quan thế Âm Bồ Tát cứu khổ sanh
kinh, nam mô Quan thế Âm Bồ Tát.
Dữ Phật hữu nhơn, giữ Phật hữu dương, Phật
pháp tương nhơn thường lạc, ngã tịnh triêu niệm Quan thế Âm Bồ Tát, mộ niệm
Quan thế Âm Bồ Tát.
Niệm niệm tùng tâm khởi, niệm Phật bất ly
tâm, nam mô Quan thế Âm Bồ Tát, cứu khổ cứu nạn.
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng.
ĐÁC CHỈ ĐA, ÁN DÀ RA PHẠT ĐA, DÀ RA PHẠT
ĐA, DA RA DÀ PHẠT ĐA, RA DÀ PHẠT ĐA TA BÀ HA.
---o0o---
CÔNG ĐỨC BỬU SƠN ĐÀ LA NI.
Nam mô Phật đà da, nam mô đạt mạ da, nam mô
tăng dà da.
Án tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba
kiết rị, ba tất đạt rị, bố rô rô rị ta bà ha.
---o0o---
ĐẠI BỬU QUẢNG BÁC LẦU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT
ĐÀ LA NI
Nẳn mồ tát phạ đát tha nghiệt đa nẵm. Án vĩ
bổ lã nghiệt bệ, mo nỉ bát ra bệ, đát tha đa, nể cấm xả mảnh mo nỉ tô bát ra
bệ, vĩ mo lê, bà nghiệt ra, nghiểm tỷ lệ, hộng hộng nhập phạ lã, nhập phạ lã,
một đà vĩ lư chỉ đế, hống hế, dẹ địa sắc xỉ đa nghiệt bệ, ta phạ ha.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
---o0o---
CHUẨN ĐỀ CHÚ.
Chuẩn Đề chú thất cu tri, Phật Mẫu tâm đại
Chuẩn Đề đà la ni.
Khể thủ qui y tô tất đế, đầu diện đảnh lễ
thất cu tri, ngõ kim xưng tán đại Chuẩn Đề, di nguyện từ bi tỳ gia hộ vệ, nam
mô tát đa nẵm tam diệu tam bồ đề, cu tri nẵm nẵm đát điệc tha.
ÁN CHIẾC LỆ CHỦ LỆ, CHUẨN ĐỀ TA BÀ HA.
---o0o---
PHẬT THUYẾT TIÊU TAI.
Nẳng mồ tam mãn đa mẫu đà nẩm. Á bát ra để
hạ đa xá ta nẳng nẩm. Ðát điệt tha. Án khê khê khê hế khê hế hồng hồng nhập phạ
ra nhập phạ ra bát ra nhập phạ ra bát ra nhập phạ ra để sắc sá để sắc sá sắc
trí rị sắc trí rị ta phấn tra ta phấn tra phiến để ca thất rị duệ ta phạ ha.
---o0o---
THÁI DƯƠNG KINH.
Thái dương minh minh chư quang Phật.
Tứ đại thần châu trấn càn khôn.
Thái dương xuất hiện mãn thiên hồng.
Trú dạ hành lai bất trụ đình.
Hành đắc khoái lai thôi nhơn lão.
Hành đắc trì lai bất lưu đình.
Gia gia môn tiền đa tẩu quá.
Đáo xứ chúng sanh kiếu tiểu danh.
Não liễu thái dương qui sơn khứ.
Ngã khứ lê dân khổ chúng sanh.
Thiên thương vô ngã vô hiểu dạ.
Địa hạ vô ngã thiểu thâu thành.
Các cá thần minh hữu nhơn kiến.
Hữu cá kiến ngã thái dương sanh.
Thái dương tam ngoạt thập cửu diên.
Gia gia niệm phật điểm ngân đăng.
Hữu nhơn truyền ngã Thái Dương Kinh.
Hiệp gia lão thiểu miễn tai tinh.
Vô nhơn truyền ngã Thái Dương Kinh.
Nhãn tiền tựu thị địa ngục môn.
Phật thuyết thần minh chư quang Phật.
Truyền giử thiện nam tín nữ nhơn.
Mỗi nhựt triêu niệm thất biến.
Vĩnh thế bất tẩu địa ngục môn.
Lâm chung chi thời quy tịnh độ.
Cửu Huyền Thất Tổ tận siêu thăng.
Kiền thiền tụng niệm Thái Dương Kinh.
Thời thời tiện hữu tiên giá nghinh.
Phước lộc thọ tinh khả lập chí.
Thế nhơn hà bất tảo truyền tâm.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
---o0o---
THÁI ÂM KINH.
Thái âm Bồ Tát vãng đông sanh, chiếu kiến
Thiên Đình_Địa Ngục môn.
Cửu trùng khai, bát vạn tứ thiên chư Bồ
Tát, Bồ Tát thăng khai tiện bài, đầu đảnh kim ngân khán ta bà thế giái khai,
khước đạp phù vân địa, liên hoa phiến phiến khai, hữu nhơn tụng đắc Thái Âm
Kinh thất biến, thắng quá kim cang kinh nhứt quyện, nhứt lai báo đức thiên hòa
địa, nhị lai báo đáp phụ mẫu ân. Tại đường phụ mẫu sanh diên thọ, quá hậu phụ
mẫu tảo siêu thăng.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
---o0o---
KIM CANG TẨY MAO KINH
Tẩy mao tẩy giác Quan Âm Bồ Tát cứu thoát
chúng sinh, miễn kiếp giai thành biến vi nhơn tướng.
ÁN SIÊU ĐỘ BỒ TÁT MA HA TÁT. (niệm 3 lần)
Án sỉ lâm bộ lâm. Án chư Phật hiện thân Giá
la Thần, Hộ la Thần, niệm Phật nhứt thiên vạn biến, quỷ ly thân, thân ly sàng,
bịnh ly thân, nhứt thiết tai ương hóa vi trần.
Giả hữu thảo thần đà la ni, giả hữu quỉ đà
la ni. Chư ác quỷ bàng bất đắc, phụng thỉnh thập địa chư thần oai.
Nam mô Động Địa Kim Cang.
Nam mô Xuất Sơn Tẩu Thủy Kim Cang.
Nam mô Phụ Mẫu Kim Cang.
Nam mô Thiên quang, Địa quang, trú dạ Thần
quang, thành Phật tự tại tà ma tiêu vong.
Nhược nhơn thiện nam tử, thiện nữ nhơn, mỗi
nhựt chí tâm niệm nhứt quyên, như chuyển Kim Cang kinh tam thập vạn quyện.
Hựu đắc Thần minh gia hộ, chúng Thần trí
tri trí huệ thiện địa nhơn.
Nam mô hườn Kim Cang Bồ Tát ma ha tát (niệm
3 lần).
Nam mô Đại Hải Thánh Chúa Bồ Tát ma ha tát
(niệm 3 lần).
---o0o---
CỨU KHỔ KINH ÔNG
Khai kinh kệ: vô thượng thậm thâm vi diệu
pháp, bá thiên vạn ức nan tao ngộ, ngã kim kiến văn đắc thọ trì, nguyện giải
Như Lai chơn thiệt nghĩa.
Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn linh
cảm Quan thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng, dữ
Phật hữu nhơn, dữ Phật hữu dương, Phật pháp tương nhơn thường lạc, ngã tịnh
triêu niệm Quan thế Âm Bồ Tát, mộ niệm Quan thế Âm Bồ Tát, niệm niệm tùng tâm
khởi, niệm Phật bất ly tâm.
Thiên la Thần, Địa la Thần, nhơn ly nạn,
nạn ly thân, nhứt thiết tai ương hóa vi trần.
Nam mô ma ha bát nhã ba la mật đa.
Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan
thế Âm Bồ Tát.
Bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật,
vô lượng công đức Phật, Phật cáo A Nan ngôn: Thử kinh đại thánh năng cứu trọng
bệnh, năng cứu bá nạn khổ.
Trì tụng nhứt thiên biến, tự thân ly khổ
nạn, đọc tụng nhứt vạn biến, khổ nạn tiêu.
Nam mô Phật lực oai, nam mô Phật lực hộ, sử
nhơn vô ác tâm, lịnh nhơn thân đắc độ.
Hồi công Bồ Tát, hồi thiện Bồ Tát, A nậu
đại Thiên Vương, chánh điện Bồ Tát.
Ma kheo, ma kheo, thanh tịnh tỳ kheo.
Quan sự đắc tán, tụng sự đắc hưu, chư đại
Bồ Tát, Ngũ bá đại A la hớn, cứu độ đệ tử (họ,tên…) thân tất giai ly khổ nạn,
tự nhiên Quan Thế Âm, anh lạc bất tu giải, cần đọc tụng nhứt thiên vạn biến, tự
nhiên đắc giải thoát.
Như Lai tín thọ phụng hành, tức thiết hạ
chú viết:
LY BÀ LY BÀ ĐẾ, CẦU HA CẦU HA ĐẾ, ĐÀ LA NI
ĐẾ, NI HA CA ĐẾ, TỲ LÊ NỄ ĐẾ, MA HA DÀ ĐẾ, CHƠN LINH CÀN ĐẾ TA BÀ HA.
Nam mô Chí Công Vương Phật.
Nam mô Đường Công Vương Phật.
Nam mô Bửu Công Vương Phật.
Nam mô Hóa Công Vương Phật.
Nam mô Lãng Công Vương Phật.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
---o0o---
PHỔ ĐÀ SƠN
Phổ đà sơn thượng quan minh giái.
Tuân phúng Di Đà hiện Phật huy.
Đầu đái huê trang quan thất bửu.
Túc đạp ngọc bệ hóa liên hoa.
My khủng khung khung khoái tân nguyệt.
Mục hành tán thán hiện quang huy.
Tả thủ trì bình thanh tịnh thủy.
Hữu thủ tụng sái dương liễu chi.
Cứu khổ cứu nạn Quan Âm Phật.
Đại thánh đại nguyện đại từ bi.
Lịch kiếp tu hành thành vạn pháp.
Thiên hình thiên tướng hóa thiên y.
Thiện ngũ bá danh Quan Âm Phật.
Chư ma tối thắng tận quy y.
Án đát tha đạt kiết đế, án đa ri na cẩn trì
yết đế, tố rô yết đế mâu ni rô, mâu ni thần thông quảng đại, hiện chư Phật công
đức hà sa bất khả tư nghì.
Thượng đạo tu hành thành tảo quả.
Nguyện thân đắc phước thậm kham vi.
Bát thập nhị tướng thông thế giái.
Tam thập phong đô ngục A Tỳ.
Phật hiện thành môn tướng khai tỏa.
Diêm Vương ngục tốt lễ quy y.
Đao sơn kiếm thọ hóa cam lồ.
Vạc than thiết hỏa hóa liên trì.
Nhứt đức hóa thành phong võ chí.
Hỏa khanh địa ngục đoạn phân ly.
Thiên Long bát bộ lai hộ vệ.
Kim cang Thần tướng tốc tương tùy.
Chư Phật hiện hình thành cảnh giái.
Thập phương hiển ngự bửu lưu ly.
Nhứt phiến hóa thành thiên lãnh bức.
Nhứt bức hóa thành thiên vạn y.
Khổ hải chúng sanh giai bảo mãn.
Đồ lao cơ khác phú dương chi.
Tam giái hội kinh đồng cảm ứng.
Chơn tu thượng đạo diệc gia trì.
Nam mô tam châu cảm ứng, Hộ Pháp Di Đà Tôn
Thiên Bồ tát ma ha tát (niệm 03 lần)
Nhứt trí thần thông quảng đại: Vạn pháp vạn
thân.
Nhì trí thần thông quảng đại: Thiên binh,
Thiên tướng, Thiên kỳ.
Tam trí thần thông quảng đại: Hô phong hoán
võ thích lịch.
Tứ trí thần thông quảng đại: Hóa long hiện
hổ bôn trì.
Ngũ trí thần thông quảng đại: Cử tẩy thiên
sầu địa thảm.
Lục trí thần thông quảng đại: Cung tà quỷ
khứ thần xuy.
Án ma ni bái di hồng, ma cát nhê nạp tích
đô được ba đạt, tích được ta nạp di đạt rị các tác nhi cáng nhi tháp, bốc rị
tất đáp các nạp bồ la, nạp nạp bốc rị hưu thắc ban nạp nại ma lô kiết thiết ra
da tá ha.
---o0o---
KIM CANG SƠN.
Nam mô Quan thế Âm Bồ Tát.
Án sỉ lâm án bộ lâm, đẳng Phật hiện thân,
Giá na Thần, Hộ la Thần, niệm Phật nhất thiên biến, quỷ ly thân, thân ly sàng,
bịnh ly thân, nhứt thiết tà ma hóa vi trần.
Giả hữu thảo Thần đà la ni, giả hữu quỷ đà
la ni, chư ác quỷ bàng bất đắc, phụng thỉnh thập Địa Thần, tà, quỷ giai tiêu
diệt.
Nam mô Động Địa Kim Cang.
Nam mô Xuất Sơn Tẩu Hải Kim Cang.
Nam mô Thiên Giáng Tứ Hải Kim Cang.
Nam mô Phụ Mẫu Kim Cang.
Mỗi nhơn niệm đắc Kim Cang Chú, miễn liễu
thân biên tai, Thiên quang, Địa quang, trú dạ Thần quang, thành Phật tự tại, tà
ma tiêu vong, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, mỗi nhựt chí tâm niệm nhất
quyện, như chuyển Kim Cang tam thập quyện, hựu đắc Thần minh gia hộ, chúng Thần
trí tri trí huệ, thiên địa hữu nhơn thơ tả nhứt biến dữ nhơn lưu truyền, công
đức cao như Tu Di sơn, thâm như Đại hải thủy, vĩnh thế bất đạp địa ngục môn, xứ
xứ nan thính đạt ma ha ta bà ha.
---o0o---
KIM CANG THẦN CHÚ.
Nguyện dĩ thử công đức, phổ cập ư nhứt
thiết, ngã đẳng dữ chúng sanh, giai cộng thành Phật đạo.
ĐÁC CHỈ ĐA, ÁN DÀ RA PHẠT ĐA, DÀ TA PHẠT
ĐA, RA DÀ PHẠT ĐA TA BÀ HA.
---o0o---
BÀ DIỄN CHÚ.
Nam mô Bà Diễn Bà Sang đệ tử Thiên Thần Bồ
Tát chứng minh. (niệm 3 lần)
---o0o---
LAM HỘNG CHÚ
Án Lam Lam Hộng. (niệm 3 lần)
Án Dà Tăng Ni Hộng. (niệm 3 lần)
Án Ma Ni Bát Di Hộng. (niệm 3 lần)
---o0o---
TA BÂY CHÚ.
No Mô Ta Bây Tam Bà Ha.
Án Sỉ Lâm Án Bộ Lâm. (niệm 3 lần).
---o0o---
QUAN ÂM KINH TÁN.
Phổ môn thị hiện cứu khổ tầm thinh, từ bi
thuyết pháp độ mê tân, phú cảm ứng tùy hình tứ hải, thanh ninh bát nạn vĩnh vô
xâm.
Nam mô hiệu Viên thông, danh tự tại Quan Âm
Như Lai, quảng phát hoằng thệ nguyện.
Nam mô nhứt niệm tâm vô quái ngại Quan Âm
Như Lai, thường cư nam hải nguyện.
Nam mô trụ ta bà, u minh giái Quan Âm Như
Lai, tầm thinh cứu khổ nguyện.
Nam mô hàng tà ma, trừ yêu quái Quan Âm Như
Lai, năng trừ nguy hiểm nguyện.
Nam mô thanh tịnh bình thùy dương liễu Quan
Âm Như Lai, cam lồ sái tâm nguyện.
Nam mô đại từ bi, năng hỉ xả Quan Âm Như
Lai, thường hành bình đẳng nguyện.
Nam mô trú dạ tuần vô tổn hoại Quan Âm Như
Lai, thệ diệt tam đồ nguyện.
Nam mô giọng nam nham, cầu lễ bái Quan Âm
Như Lai, giải tỏa giải thoát nguyện.
Nam mô tạo pháp thuyền du khổ hải Quan Âm
Như Lai, độ tận chúng sanh nguyện.
Nam mô tiền tràng phang, hậu bửu cái Quan
Âm Như Lai, tiếp dẫn Tây Phương nguyện.
Nam mô Vô lượng thọ Phật cảnh giái Quan Âm
Như Lai, Di Đà thọ ký nguyện.
Nam mô đoan nghiêm thân vô tỷ trại Quan Âm
Như Lai, quả tu thập nhị nguyện.
---o0o---
NGUYỆN THẬP ĐIỆN.
Nam mô Nhứt điện: TẦN QUẢNG MINH VƯƠNG xá
trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô Nhị điện: SỞ GIANG MINH VƯƠNG xá trừ
vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô Tam điện: TỐNG ĐẾ MINH VƯƠNG, xá trừ
vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô đệ Tứ điện: BIỆN THÀNH MINH VƯƠNG,
xá trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô đệ Ngũ điện: BÌNH ĐẲNG MINH VƯƠNG,
xá trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô đệ Lục điện: THỚI SƠN MINH VƯƠNG, xá
trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô đệ Thất điện: CỬU QUANG MINH VƯƠNG,
xá trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô đệ Bát điện: ĐÔ THỊ MINH VƯƠNG, xá
trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô đệ Cửu điện: THÁNH MINH MINH VƯƠNG,
xá trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
Nam mô đệ Thập điện: CHUYỂN LUÂN MINH
VƯƠNG, xá trừ vô biên tội, dẫn nhập hội Long Hoa, hội Long Hoa nguyện.
NAM MÔ TAM CÕI CỘNG ĐỒNG (niệm 3 lần).
---o0o---
ĐẠI BỔ KHUYẾT CHƠN NGÔN.
Án bối tự ra, mai tự quá, ngữ bất chơn lậu
tự đa, ý bất chuyên tâm tức sai, mậu tụng kinh, thêm giám tha.
Hương hoa tịnh thủy thành tâm ý, bổ khuyết
viên mãn tội tiêu ma, chư Phật long thiên cầu sám hối bồ tát ma ha tát.
(niệm 3 lần)
---o0o---
NGUYỆN TIÊU
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não.
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu.
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ tát đạo.
Nguyện sanh tây Phương tịnh độ trung.
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu.
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh.
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức.
Phổ cập ư nhứt thiết.
Ngã đẳng dữ chúng sanh.
Giai cộng thành Phật đạo.
(niệm 3 lần)
---o0o---
PHÚNG KINH
Phúng kính công đức thù thắng hạnh.
Vô biên thắng phước giai hồi hướng.
Phổ nguyện pháp giái chư chúng sanh.
Tốc vãng vô lượng quan Phật sát.
Hồi hướng nhơn dương Tam thế Phật.
Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Tự Tại.
Nguyện dĩ thử công đức.
Phổ cập ư nhứt thiết.
Ngã đẳng dữ chúng sanh.
Giai cộng thành Phật đạo.
---o0o---
HOÀN SANH CHƠN KINH.
Phổ lư đảnh lễ Thánh Minh Vương, tân kinh
hoàn thế giáng kiết tường, chánh quả thiên nhơn tăng phước thọ, khử tà quy
chánh bảo an khương.
Nam mô Thánh Minh Vương Bổ Tát ma ha tát.
(niệm 3 lần).
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (niệm 3
lần).
Hoàn sanh trần thế. Lập kế Thánh Vương.
Thân thể nhiễu nhương. Người dương thay đổi. Phép trời làm nổi. Thân thể trang
nghiêm. Hởi kiếp lo toan. Thay đời lập trị. Phật trời hiệp nghị. Có một hội
này. Có tớ có thầy. Trang tiên kiển, chọn xây lựa tuyển, tống xuống học hành,
công sự đã thành, thiên cơ sở định, kiển trần an tịnh, chẳng lộn uế nhơ, nổi
máy thiên cơ, gắng mà tụng vái, nay đà đến máy, như khải mỏ gà, ai chớ cần cà,
nhựt qua nguyệt lại, chớ nại tất công, tào bắc lộn đông, hiển trần khờ khạo,
Phật tạo mới thành, chúng thế tương tranh, lựa người nhơn đức, để trước Thượng
Ngươn, khuyên hết nhơn nhơn, gắng mà tụng vái, nay đà đến máy, trời Phật trở xây,
chúng thế không hay, nói rằng không có, hùng hoằng thời bỏ, nhơn nghĩa đem vào,
việc của Thiên Tào, Thiên cơ sở định, kiển trần an tịnh, thân thể như tiên,
thân thể mới yên, ra đời thọ hưởng, hưởng đắc lộc thọ, phú quới vinh hoa, phước
lộc thọ về ta, hưởng thiên niên vạn đại.
Nam mô Thượng Ngươn, tứ phước thiên quang
phổ chiếu Quốc thới dân an thiên hạ thái bình chư tai tiêu diệt nguyện.
Nam mô Trung Ngươn xã tội địa quan, phổ
chiếu Quốc thới dân an thiên hạ thái bình chư tai tiêu diệt nguyện.
Nam mô Hạ Ngươn giải ách thủy quan phổ
chiếu Quốc thới dân an thiên hạ thái bình chư tai tiêu diệt nguyện. (niệm 03
lần câu chót)
---o0o---
NGUYỆN HỘI NGUYỆN CHÚA
Thượng chúc Đương kiêm Quốc vương Thánh thọ
vô cương hạ tứ văn võ quan liêu cao tăng vị phẩm.
Phục nguyện Quan Âm đại sĩ tích hiệu viên
thông thập nhị nguyện thệ hoằng thâm khổ hải độ mê tân, cứu khổ tầm thinh vô vô
sát xuất hiện toàn thân.
Nam mô Quan thế Âm Bồ Tát ma ha tát thất cu
tri Phật Mẫu nguyện.
Nguyện Hoàng đồ củng đế đạo hà sương, Phật nhựt
tăng qui pháp luân thường chuyển nguyện.
Nguyện Minh hoàng thạnh trị thiên hạ thái
bình chư tại tiêu diệt nguyện.
Nguyện Long Thiên Hoàng Đế vạn vạn tuế
thánh thọ vô cương chúc địa cửu thiên trường nguyện.
Nguyện Minh Hoàng thạnh trị thiên hạ thái bình
chư tai tiêu diệt nguyện.
Nguyện bá cốc thành thục nguyện.
Nguyện Thành Hoàng bổn đạo đương kiển Thổ
Địa Chánh Thần phúng tụng kim ngôn thường lai ủng hộ nguyện.
Nguyện kim niên, kim ngoạt, kim nhựt, kim
thời vì bổn đạo thiện nam tử, thiện nữ nhơn, sở nguyện tùng tâm, sở cầu như ý,
tứ thế bình an, tật bịnh tiêu trừ chư tai tiêu diệt nguyện.
Nam mô A Di Đà Phật, Phật tổ Như Lai cứu độ
chúa tôi Minh Vương thạnh trị thiên hạ thái bình nguyện.
Nam mô Quan thế Âm Phật, Phật bà cứu độ
chúa tôi Minh Hoàng thạnh trị thiên hạ thái bình nguyện.
Nam mô Ngọc Hoàng Thượng Đế cứu độ chúa tôi
thiên hạ thái bình chư tai tiêu diệt nguyện.
Nam mô Thới Minh Vương Phật cứu độ vạn dân
thiên hạ tật bịnh tiêu trừ nội gia đại tiểu đẳng nguyện.
Nam mô Già Lam Chơn tế Quan Đế Thánh Quân
cứu độ vạn dân thiên hạ tật bịnh tiêu trừ chư tai tiêu diệt nguyện.
Nam mô Thiên tiên, Địa tiên, Bát bộ Thần
tiên cứu độ vạn dân thiên hạ tật bịnh tiêu trừ chư tai tiêu diệt nguyện.
Phục nguyện Hoàng đồ củng cố đế đạo hà
xương Phật nhựt tăng quy pháp luân thường chuyển nguyện.
Nguyện Minh Hoàng thạnh trị thiên hạ thái
bình chư tai tiêu diệt nguyện.
Nguyện Thổ Địa Thánh Thần, phúng tụng kim
ngôn thường lai ủng hộ nguyện.
Nguyện cầu thiên nam tử, thiên nữ nhơn, sở
nguyện tùng tâm, sở cầu như ý, tứ thế bình an, tật bịnh tiêu trừ, chư tai tiêu
diệt nguyện.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Phật bạ truyền lương
dược bá mộc thảo căn cứu độ thế gian tật bịnh tiêu trừ, nhược nhơn thi công tế
cấp lương dược đắc phương thọ trường.
Nam mô Đông phương Thánh đế Chí Công Vương
Phật cứu khổ cứu nạn cứu vạn dân thiên hạ tật bịnh tiêu trừ chư tai tiêu diệt
nguyện.
Nam mô Tây phương Bạch đế Lãng Công Vương
Phật cứu khổ cứu nạn cứu vạn dân thiên hạ tật bịnh tiêu trừ tai qua nạn khỏi
nguyện.
Nam mô Nam phương Xích đế Bửu Công Vương
Phật cứu khổ cứu nạn cứu vạn dân thiên hạ tật bịnh tiêu trừ chư tai tiêu diệt
nguyện.
Nam mô Bắc phương Hắc Đế Hóa Công Vương
Phật cứu khổ cứu nạn cứu vạn dân thiên hạ tật bịnh tiêu trừ chư tai tiêu diệt
nguyện.
Nam mô Trung Ương Huỳnh đế Đường Long Vương
Phật cứu khổ cứu nạn cứu vạn dân thiên hạ tật bịnh tiêu trừ chư tai tiêu diệt
nguyện.
Nam mô Thiên Tôn hải hội Bồ Tát ma ha tát.
Nam mô Phổ Hiền hải hội Bồ Tát ma ha tát.
Nam mô Đại Thế Chí hải hội Bồ Tát ma ha
tát.
Nam mô Địa Tạng Vương hải hội Bồ Tát ma ha
tát.
Nam mô Đông phương Thanh đế hải hội Bồ Tát
ma ha tát.
Nam mô Tây phương bạch đế hải hội Bồ Tát ma
ha tát.
Nam mô Nam phương Xích đế hải hội Bồ Tát ma
ha tát.
Nam mô Bắc phương Hắc đế hải hội Bồ Tát ma
ha tát.
Nam mô Trung Ương Huỳnh đế hải hội Bồ Tát
ma ha tát.
Nam mô Thập lục hằng hà hải hội Bồ Tát ma
ha tát.
Nam mô chín phương trời mười phương chư
Phật hải hội Bồ Tát ma ha tát.
Nam mô Quan Thế Âm hải hội Bồ Tát ma ha
tát.
Nam mô Hộ Pháp Long Thiên hải hội Bồ Tát ma
ha tát.
Nam mô Tam cõi cộng đồng hải hội Bồ Tát ma
ha tát.
Nam mô các đảng âm binh hải hội Bồ Tát ma
ha tát.
------------------------
------------------------
Chú Trừ Tam Tai
Bài chú để giải trừ tam tai mộc ách:
đông tây nam bắc trung ngũ đẩu,
châu thiên thất thập nhị cung thần,
nhị thập bát tú liệt phương ngung,
cửu diệu thất tinh chư thánh chúng,
đại bi đại nguyện đại thánh đại từ,
đại hạn tiểu hạn tinh quân,
đại vận tiểu vận nguyên thần,
la kế nguyệt bọc bàn lâm chủ chiếu bổn mạng
ngươn thần,
kim mộc thủy hỏa thổ.
tử vi bắc đẩu,lục đinh lục giáp tinh quân,
chứng minh đệ tử (......)
nguyện tiêu tai chướng, nguyện giáng kiết
tường,
tam tai cầu tận diệt,vạn họa tất tiêu tàn,
niên ngoạt nhật dạ thời phùng bình an cấp
cấp
nam mô: tiêu tai giáng kiết tường bồ tát ma
ha tát (3 biến)
(án lam án giác, án sĩ lâm án tặc lăng, án
ma ni bát nạp di hộng, án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha)
nam mô: bá thiên vạn ức hằng hà sa số vô
lượng công đức thập phương tam thế nhất thiết chư phật chư tiên hải hội bồ tát
ma ha tát (3 biến)
------------------------
Mông Sơn Thí Thực
Mông sơn thí thực
Nam mô A Di Đà Phật.
Kim niên, kim nguyệt, kim nhật, kim thì,
kim vì ………bày biện hương đăng lễ vật, trợ thí cô hồn, phổ độ chúng sinh. Cung
thỉnh, Đại thánh An Nan tôn giả, Tiêu Diện quỷ vương Bà la môn tiên: cung thỉnh
La Sát Bà Vương, Môn thần hộ úy, Thổ Địa linh quan, thủ điện thủ đền, thủ kiếm
thủ kỳ, thủ đài thủ hộp, thủ ấn thủ đao, tiếp dẫn thập nhị cô hồn về trước án
tiền nghe văn thí thực.
Nam mô Đại thánh khải giáo Át Nan Đà tôn
giả tiếp dẫn chúng sinh Đông - Tây - Nam - Bắc, tứ duy thượng hạ nam nữ đẳng
chúng thập nhị loại cô hồn, đồng lai thụ cam lộ vị. (3 lần)
Hương phụng hiến một lòng thành kính
Dốc một lòng phụng thỉnh Như Lai
Quỷ thần chứng ở hai vai
Giờ đây đệ tử chấp tay nguyện cầu
Trước đỉnh lễ thập phương chư Phật
Sau cúng dàng Tứ Phủ Vạn Linh
Hạ đàn bố thí chúng sinh
Văn nghe một tiếng tập tành mời khuyên.
Xin thỉnh mời Át Nan tôn giả
Chư Thánh hiền phả độ quần sinh
Thỉnh mời bản xứ thần linh
Lai lâm ủng hộ pháp duyên đạo tràng
Xin thỉnh mời văn quan nho sỹ
Bậc anh tài hàm vị sắc phong
Nào đâu số kiếp long đong
Chết không hương khói lại không ai nhìn
Nơi trận mạc binh đao khói lửa
Xin thỉnh mời võ tướng oai linh
Thỉnh mời lực sĩ tinh binh
Các cơ các đội đồng hành về đây
Đời người sống trên trần thế
Chết mỗi người mỗi vẻ khác nhau
Chết nào mà chẳng thương đau
Không nơi nương tựa biết đâu mà về
Có những người tuổi già sức yếu
Khi quan đời thiếu cháu thiếu con
Có người quả phụ cô đơn
Chết đi tấm áo héo hon lạnh lùng
Có những kẻ tha phương cầu thực
Khi qua đời nắm đất vùi thân
Có người lỡ bước sa chân
Gặp cơn cảm gió chết oan giữa trời
Có những người vì đời uất ức
Sợi dây thừng nhắm mắt cho qua
Có người sét đánh ngã ba
Có người mệnh bạc đắm đò trôi sông
Có người chết tù gông tăm tối
Lại có người xảy cối sa cây
Có người trèo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ, kẻ lây cháy thành
Người thì vào rừng xanh núi độc
Kẻ đói nghèo mò ốc bắt cua
Thế rồi hồn phách vẩn vơ
Đường đi thì nhớ lối về thì quên
Nước loạn lạc triền miên năm tháng
Nới chiến trường hòn đạn mũi tên
Người thì chết súng chết gươm
Người thì mất tích đầu sông cuối nguồn
Thương mấy đứa khi còn tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế vào ra
U ơ tiếng khóc xót xa nỗi lòng
Hoặc là chơi ven bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọc suối chân mây
Hoặc nơi bụi cỏ bóng cây
Hoặc là cầu nọ quán này bơ vơ
Hoặc là nương Thần từ Phật tự
Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc trong gò đống hoặc vùng lau tre
Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu biết mấy mươi năm
Thở than dưới đất, ăn nằm trong sương
Nghe gà gáy tìm dường lánh ẩn
Lặn mặt trời lẩn thẩn bước ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Nén hương hiu hắt biết là về đâu
Ơi hỡi cô hồn, vãng lai qua lại, biết đây
hương khói, bày đặt lễ nghi, đã đến đừng đi, vào mà thụ hưởng, nhưng người oan
nghiệt, cầu được giải oan, xưa ở trần gian, tha phương cầu thực, những người
uất ức, chết suối chết sông, chết chợ chết đường, không ai đơm cúng, người đi chiến
trận, hòn đạn mũi gươm, không họ không tên, không quê không quán, người thì
buôn bán, tai nạn tầu xe, mấy kẻ rượu chè, say sưa cờ bạc, tiền tham việc nhác,
mà chém lẫn nhau, người tới hang sâu, beo vồ hổ nuốt, có người lên thác, nước
cuốn xác trôi, có người ngậm ngùi, xiêu mồ lạc mả, người đi xứ lạ, gặp vận
chẳng may, cháy thành vạ lây, lấy ai đùm bọc, có người làm phúc, lại thiệt đến
thân, thương những oan hồn, không ai cầu nguyện, thương người tù tội, năm tháng
đọa đầy, không không trọn đời, nỗi oan day dứt, người đi mất tích, chẳng biết
nơi đâu, vợ con âu sầu, tháng năm mòn mỏi, có người trót dại, giây phút lìa
trần, vì nỗi tình riêng, có nhiều trắc trở, có người bạc phận, sinh nở con ra,
tuổi trẻ phận già, con còn mẹ mất, ở đời là vậy, cơ sư gây nên, vợ phải xa
chồng, con đành mất mẹ, ở trên thần thế, dù tội dù oan, cũng chẳng phàn nàn, số
trời đã định, nay thầy cầu nguyện, cho các cô hồn, đắc độ đắc siêu, về nơi tiên
cảnh,
ơi hỡi cô hồn, nghe thầy khuyên bảo, ở
trong huyền ảo, tù ngục minh khai, dù gái hay trai, dù già hay trẻ, cấp to cấp
nhỏ, hay kẻ dân thường, về chốn bản đàn, được quyền bình đẳng, trên tòa thượng
đẳng, Đại Thánh Át Nan, chứng giám bản đàn, thần linh bản xứ, lễ nghi đàn sở,
đầy đủ mời khuyên, điện chủ vi thành, nhất tâm cầu nguyện, lễ nghi bày biện,
của ít lòng nhiều, dù có bao nhiêu, cũng vui lòng nhận, có bầu có bạn, phải
biết nhường nhau, chớ trách rằng nhiều, không chê rằng ít, thiếu đũa thiếu bát,
luân phiên cho đều, chia gạo chia tiền, chia quần chia áo, hương hoa nẻ cháo,
bát nước nén hương, vui lòng ấm bụng, độ người có đức, giúp người có nhân, có
rượu tam tuần. xin mời thụ hưởng
Tự nhiên thiên trù thực
Vô lượng diệc vô biên
Tùy niệm giai sung túc
Biến hóa thực vô biên
Nam mô tát phạ đát tha ngạ đá phạ rô chỉ đế
án tam bạt la tam bạt la hồng (3 lần)
Nam mô tô rô bà ra nga đá ra đát điệt tha,
án tô rô tô rô, bát la tô rô sa bà ha (3 lần)
Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật la
hộc (3 lần)
Nam mô phổ cúng dàng bồ tát ma ha tát (3
lần)
Ơi hỡi chúng sinh
Nghe lời khuyên nhủ
Lòng thành điện chủ,
Của ít lòng nhiều,
Lễ đã chu viên,
Thầy mời thì ở,
Thầy tiễn thì đi,
Trống giong cờ dắt
Tuân hành Phật sắc
Quân ở dưới đất
Về chốn diêm la,
Quân ở trên trời
Thì về thiên phủ,
Quân nơi biển cả,
Rẽ sóng mà đi,
Không được lân la,
Làm điều bất lợi,
Không vào thôn xóm,
Bắt lợn bắt gà,
Không hại người già,
Không trêu trẻ nhỏ,
Ai có phần mộ
Về đó an cư,
Ai có thần từ
Quy về miếu mạo,
Khi mời lại đến,
Nghe kệ nghe kinh,
Tịnh độ siêu sinh,
Quy y Phật quốc,
Án phạ phiệt sa bà ha.
Nam mô Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn
giả
Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn
phương
Gốc cây xó chợ đầu đường
Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang
Quanh năm đói rét cơ hàn
Không manh áo mỏng – che làn heo may
Cô hồn năm bắc đông tây
Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn
Dù rằng: chết uổng, chết oan
Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu
Chết tai nạn, chết ốm đâu
Chết đâm chết chém chến đánh nhau tiền tình
Chết bom đạn, chết đao binh
Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh
sản giống nòi
Chết vì sét đánh giữa trời
Nay nghe tín chủ thỉnh mời
Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau
Cơm canh cháo nẻ trầu cau
Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh
Gạo muối quả thực hoa đăng
Mang theo một chút để dành ngày mai
Phù hộ tín chủ lộc tài
An khang thịnh vượng hòa hài gia trung
Bây giờ nhận hưởng xong rồi
Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần
Tín chủ thiêu hóa kim ngân
Cùng với quần áo đã được phân chia
Kính cáo Tôn thần
Chứng minh công đức
Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã
Nhất thu bách hoạch giả, nhân dã
MỜI ĐẾN
Nam mô Đại thánh khải giáo Át Nan Đà tôn
giả tiếp dẫn chúng sinh Đông - Tây - Nam - Bắc, tứ duy thượng hạ nam nữ đẳng
chúng thập nhị loại cô hồn, đồng lai thụ cam lộ vị. (3 lần)
Lễ nghi bày đặt trên bàn
Phô trương ngũ sắc bạc vàng chan chan
Trên thỉnh đức thánh khải giáo a nan
Cùng quan thủ diện hộ đàn chứng minh
Hơi hỡi các chúng sinh ơi
Lắng nghe tôi mời thời lại đàn đây
Hoặc là ở Đông, ở Tây
ở Nam, ở Bắc, hôm nay thời về
Dù trai, dù gái, dù trẻ, dù già
Lũ năm, lũ ba về ăn cháo thiết
Nhiều người ăn ít, ít người ăn nhiều
Của có bấy nhiêu phân chia cho đủ
Lắng nghe tôi nhủ ai đấy thì nghe
Chỗ vị là vì ở trên dương thế thác về âm ty
Người thì khổ hạnh biệt ly
Người thì hồn lạc, người thì khó khăn
Chẳng ai đơm cúng cho ăn
Bụng đói cật rét thiết thân cơ hàn
Nào người tiền của bạc vàng
Bị năm binh cách tồi tàn sạch không
Xa cơ lỡ bước long đong
Vợ chẳng thấy chồng, cha chẳng thấy con
Thác đi làm kiếp cô hồn
Lênh đênh mặt nước chèo non dãi dầu
Chẳng biết ăn đâu ở đâu
Đêm thẳm ngày sầu hè lại sang đông
Phải khi mưa gió não nùng
Tìm nơi cây cả bóng thông nương mình
Tìm nơi cầu quán rung rinh
Tìm nơi chiếu dải băng mình xin ăn
Chạy suôi chạy ngược tung tăng
Bụng đói cật rét thiết thân nhiều bề
Lại thương con trẻ đề huề
Con hẵm con dắt tối về sớm đi
Lại thương con trẻ tiểu nhi
Xẩy cha lại mẹ lấy gì tựa nương
Bây giờ nghĩ lại mà thương
Lại còn những đấng tựa nương quán cầu
Mỗi người, mỗi kiếp khác nhau
Hồn siêu phách lạc biết đâu bây giờ
Giỗ hương khói đã không nơi nương tựa
Hồn bồ côi lần nữa đêm đen
Còn gì ai khá ai hèn
Còn gì mà nói ai hèn kẻ ngu
Tiết hạ sơ đứng đầu giải thoát
Nơi tịnh bình sái bạt lương tri
Muốn nhờ đức phật từ bi
Giải oan cứu khổ cùng về tây phương
Nào những kẻ màn loan chiếu huệ
Những cậy mình cung quế buồng hoa
Một phen thay đổi sơn hà
Tấm thân mảnh lá biết là làm sao
Trên cầu cao dưới dòng nước chảy
Thân đã liều chân gãy mình rơi
Khi xuân đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người xót thương
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan không nhẽ tìm đường hoá sinh
Ai ơi cứ ở cho lành
Kiếp này không gặp để dành kiếp sau
Lòng trời có phụ ai đâu
Sở nguyện như ý, sở cầu tòng tâm
Hôm nay tháng tốt ngày lành
Tín chủ thiết lập một màn giữa trời
Miếng ăn không cả tiến mời
Nhiều ít chớ quản, đầy vơi chớ nề
Áo quần chút ít gọi là
Lòng thành tín chủ tại gia khuyến mời
Cùng nhau tất cả mọi người
Ít nhiều cùng hưởng cho vui đề huề
Tiệc rồi các quan ra về
Xa gần chẳng quản tấm lòng chủ nhân
Cùng nhau nhất trí đồng tâm
Phù hộ tín chủ khang ninh họ hàng
Độ cho thị xã bản hương
Làm ăn giàu có bách niên tuổi già
Nhời này khoa giáo đưa ra
Một khoa cúng cháo thấu đà mười phương
(Nam vô sinh tịnh độ bồ tát ma ha tát)
Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã
Nhất thu bách hoạch giả, nhân dã
CHÚC THỰC- MỜI ĂN
Lập dàn cúng ở..............
Ở trên đã có ba toà chứng minh
Trên nghe kinh dưới nghe chúc thực
Đẳng chúng cô hồn tin tức bảo nhau
Nghe chuông nghe mõ ba hồi
Sớ tâu một điệp là nơi cúng giàng
Cháo cơm dàn dựng hai hàng
Quần hồ, áo giấy bạc vàng trăm quan
Tiêu diện người ở thiên đình
Lệnh người cai quản chúng sinh đêm ngày
Bà la sát ở trên mây
Con xin một chữ để đầy độ thân
Đám xa cho chí đám gần
Có quần, có áo để cùng phân minh
Ban cho khắp hết chúng sinh
Manh quần, tấm áo, vàng ngân cho đều
Có nhiều thì được hưởng nhiều
Có ít chia ít chớ nên phàn nàn
Thầy còn làm lễ cầu an
Có nhiều, có ít các quan bằng lòng
Ăn rồi ngồi xuống hai hàng
Đâu bà con trẻ rõ ràng từng tên
Phát cho từ dưới lên trên
Đàn bà, con trẻ đúng tên dành dành
Kẻ tàn, người tật một manh
Đừng cậy người lớn mà khinh bé gầy
Thiếu đủ thì đã có thầy
Thầy còn làm lễ sánh bằng các quan
Ba ông chia áo chia quần
Còn ông đợ kẻ nhỡ nhàng đương đi
Ăn rồi thì trở ra về
Đừng có lẩn khuất sinh bề quấy dân
Ở gần thì lại về gần
Ở xa dắt díu dần dần mà đi
Hỏi thăm cho đến một khi
Đến huyện, đến xã mà về đến thôn
Về cho đến cháu cùng con
Ngày giỗ, ngày tết cháu con phụng thờ
Thương ơi những kẻ vẩn vơ
Có một bát cháo cứu cơ tạm thời
Cây cao bóng mát thì ngồi
Lội sông, lội suối, lội ngòi đừng đi
Cô hồn hãy nhớ những khi
Bao giờ có đám thầy đi lại mời
Nam mô tát phạ đát tha nga đá phạ rô chỉ đế
án tam bạt la tam bạt la hồng (3 lần)
Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát
điệt tha, án tô rô tô rô, bát la tô rô sa bà ha (3 lần)
Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật la
hộc (3 lần)
Nam mô phổ cúng dàng bồ tát ma ha tát (3
lần)
Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã
Nhất thu bách hoạch giả, nhân dã
MỜI RA
Ở đây trước cửa..............
Trông về đất Phật quê hương là nhà
Làm phúc chẳng lựa trẻ già
Làm phúc được phúc thì ta cứ làm
Ở cõi trần gian
Con cũng làm phúc, làm duyên ít nhiều
Cúng giàng chẳng được bao nhiêu
Nhất tâm đính lễ ra mời các quan
Các quan phù hộ (xóm làng) (...)
Nhân khang vật thịnh là nơi thanh nhàn
Tiến cháo đã đoạn, tiến nước đã rồi
Hỡi hỡi các quan
Nghe lời thầy nhủ
Dương gian âm phủ
Cách biệt ngàn trùng
Tam phủ công đồng
Xê đi dịch lại
Các quan đừng thấy
Sông sâu mà ngại
Sông sâu đã có đò đưa
Sông Hải Hà cầu Ô mới bắc
Các quan ăn rồi ra cầu tắm mát nghỉ ngơi
Trúc quỳnh làm thông reo trúc hoá
Cảnh chiều tà nhang xạ thơm bay
Các quan chơi vui một lúc hôm nay
Ít nhiều chớ quản đầy vơi chớ nề
Lênh đênh ba chiếc thuyền kề
Tiễn các quan về tới chốn âm cung
Nam mô a di đà phật
Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã
------------------------
Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Thần Chú
Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Thần Chú
Nẳng mồ tam mãn đa
mẫu đà nẩm. Á bát ra để
hạ đa xá ta nẳng nẩm.
Ðát điệt tha.
Án
khê khê
khê hế
khê hế
hồng hồng
nhập phạ ra
nhập phạ ra
bát ra nhập phạ ra
bát ra nhập phạ ra
để sắc sá
để sắc sá
sắc trí rị
sắc trí rị
ta phấn tra
ta phấn tra
phiến để ca thất rị duệ
ta phạ ha.
------------------------
Diêu cung giáng điển giờ lành,
Truyền cho nam, nữ tu hành mau mau.
Cuộc đời như giấc chiêm bao,
Sáng ra tỉnh giấc khổ đau muôn trùng.
Trần hồng vào trận đại hung,
Thiên băng, địa chấn hãi hùng xưa nay.
Dòng đời con tạo lá lai.
Xoay vòng đến điểm hỏi ai nạn sầu?
Thương con lòng Mẹ lo âu,
Diêu cung hạ giáng đỡ đầu cho con.
Vào thảm cảnh héo hon lòng Mẹ,
Giáng phàm trần gánh nhẹ giùm con.
Việt Nam có Mẹ lo tròn,
Độ an Nam Quốc vẹn toàn khởi nguyên,
Can qua của kiếp hiện tiền,
Nghiệp xưa phải trả là điều xưa nay.
Châm ngòi tiếng nổ họa tai,
Thái Bình dậy sóng, nhành mai héo tàn.
Hè sang vào cuộc điêu tàn,
Quạ kêu thảm thiết, xương tan cá kình.
Ngoại bang vào đánh nước mình,
Nam Việt vào trận lửa binh khổ sầu.
Hoa trôi man mác về đâu?
Tình thương Mẹ đổ lụy sầu thương con.
Thương Mẹ, con gắng chu toàn,
Tu hành cho kịp lên thoàn Mẹ đưa.
Trì tâm thanh nhẹ muối dưa,
Tham thiền nhập định sớm trưa tu hành.
Di Đà Lục Tự cho thông,
Thiêng liêng hồn thể thong dong tìm về.
Lo tu con hỡi chớ nề!
Lo tu Mẹ thỉnh con về ngôi xưa.
Lo tu Mẹ đợi sớm trưa,
Lo tu cho kịp trận mưa đọa đài.
Diêu Trì Mẹ đến trần ai,
Viết bài dạy trẻ từ nay phụng hành.
Chim Loan nâng bước hành trình.
Mẹ già hồi điện, Phận mình con lo
Nam mô Vô thượng hư không địa Mẫu dưỡng
sanh Bảo mạng con thơ
------------------
CHƯ PHẬT CÓ BỐN ĐẠI ĐỨC
Chư Phật có bốn đại-đức. Vậy ta niệm
danh-hiệu Phật để nhớ Phật và rán sức làm theo bốn đại-đức của Phật đặng ngày
sau chứng quả như Ngài. Bốn đức ấy là:
1.- Đức Từ: Phật đối với chúng-sanh như mẹ
với con, lúc nào cũng lo-lắng đến, hết lòng dìu-dắt, dạy-dỗ, không nỡ để
chúng-sanh sa vào đường tội lỗi mà chịu khổ não;
2.- Đức Bi: Nếu chúng-sanh nào dạy-dỗ chẳng
nghe, làm điều độc-ác để phải tội thì Phật chẳng vì thế mà ghét bỏ, lại thương
xót không cùng;
3.- Đức Hỉ: Thường thường an vui mà làm
những việc lành. Dầu gặp hoàn-cảnh trái-nghịch cũng chẳng vì thế mà sanh lòng
buồn-bã;
4.- Đức Xả: Ngài chẳng chấp một pháp nào
trong thế-gian, sẵn lòng lìa xa các nghiệp tiền-trần, tha-thứ hết thảy những ai
tối-tăm lầm-lỗi, chẳng còn vướng-víu chi với cuộc lợi-danh, tài-sắc, nhìn cõi
đời chẳng bao giờ sanh lòng luyến ái.
Trích thì văn giáo lý PGHH
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật
(Xin thường nhớ niệm Phật)
------------------
Tán tụng Cửu Thiên Cung
Cửu Thiên Cung lưu truyền chân giáo
Hư huyễn tan hướng Đạo tu chân
Vô ưu chẳng vướng nợ trần
Cung Tiên mở lối đón Thần Thánh Tiên.
Cửu Thiên Cung phổ truyền tại thế
Lôi điển khai chứng thệ tu hành
Âm vang kinh kệ chỉ rành
Cung Thiền dẫn bước chúng sanh tìm về.
Cửu Thiên Cung giải mê sinh chúng
Thánh kinh truyền ngâm tụng công phu
Hỏa thiêng đốt sạch oán thù
Cung vàng mở Đạo gắng tu chân thành.
Cửu Thiên Cung tiếng danh khắp Cõi
Hoa mãn khai dẫn nẻo Cung Thiên
Sơn Thần chỉ lối rừng thiêng
Cung hoa thơm ngát tọa thiền ngâm kinh.
Cửu Thiên Cung Chân Tiên dìu bước
Tịnh tâm thần như nước hồ trong
Thủy âm lắng nhẹ cõi lòng
Cung huyền tịnh phách gắng công sửa mình.
Cửu Thiên Cung thân tình hỷ xả
Dược Sư Đường chuyển hóa nghiệp duyên
Trì kinh, luyện chú, tham thiền
Cung trần cứu khổ cảnh Tiên quy hồi.
Cửu Thiên Cung giúp bồi thiện phước
Thanh tĩnh an giúp được vạn linh
Phong ba chẳng thoái chân tình
Cung Ngôn Diệu Pháp vô minh tiêu trừ.
Cửu Thiên Cung kinh thư phổ tế
Thiên Đạo khai thể Pháp dồi trau
Hỷ tâm hồi hướng Cội Đào
Cung Càn mở cửa đặng vào hằng sinh.
Cửu Thiên Cung bảo sinh cứu khổ
Địa hoàn gian phổ độ chúng sinh
Linh căn thuần tánh giữ gìn
Cung Khôn dẫn Đạo tâm thành hồi Nguyên.
_ Thiện Minh _
Ảnh sưu tầm
Mùi trầm hương thoảng nơi am tịnh
Lánh cảnh đời nghiêm chỉnh công phu
Thời gian gắng để chuyên tu
Công thành viên mãn thiên thu cảnh trời.
_Thiện Minh_
Ảnh sưu tầm
Sân Si không bỏ, Tham không nhường
Lục dục thất tình mãi vấn vương
Thế tục luân trầm chưa tỉnh mộng
Ải đời chìm đắm thấy mà thương!
_Thiện Minh_
*Diễn nghĩa
- Sân Si không bỏ, Tham không nhường.
Ở câu này nói trong mỗi con người chúng ta,
đều có Tham Sân Si. Nhưng khác biệt giữa người không tu tập và người tu tập đó
chính là người đấy có nhìn nhận ra Tham Sân Si của bản thân mình mà chịu sửa
đổi buông xả hay không? Hay cứ càng ngày càng tăng lên theo sự đời này.
- Lục dục thất tình mãi vấn vương.
Cũng giống như câu trên. Nhưng ở câu này
lại nói về khí cạnh thất tình lục dục của bản thân một người. Người đời thường
không nhìn nhận ra được cái thói hư tật xấu của bản thân, mà cứ đắm chìm trong
cái lẽ phàm tánh của mình. Không chịu sửa đổi để phù hợp với Chân Thiện Mỹ.
Thất tình: Hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục.
Lục dục: Nhãn dục, Nhĩ dục, Tỵ dục, Thiệt
dục Thân dục, Ý dục.
- Thế tục luân trầm chưa tỉnh mộng.
Do con người cứ mãi lẫn quẩn với ý niệm,
cảm xúc riêng của bản thân. Không chịu tu sửa bản thân cho hợp lẽ, cứ để cuộc
đời làm dấy lên cái Tham Sân Si của mình, cứ để lục dục thất tình chi phối bản
thân. Như vậy thì đến bao giờ mới thoát khỏi cảnh đời khổ ải này, bao giờ mới
có thể về với Cội Đạo, về với Thầy Mẫu, về với Chư Thiên mà mình tín ngưỡng.
- Ải đời chìm đắm thấy mà thương.
Cái thương của Thầy Mẫu, của Chư Thiên, Của
chư vị Bổn tôn nhìn chúng sinh cứ mãi chìm đắm trong cái khổ mà không thoát ra
được.
Cái thương ở đây là cái thương của người tu
tập chân chính với tâm phát nguyện cứu khổ trợ giúp chúng sinh, để hướng họ về
lẽ Đạo.
_Thiện Minh_
Sải cánh bay về nam hề phương nam ấm áp
sáng tươi
Xuôi ngược lên trời bắc hề phương bắc mát
lạnh tĩnh mặc
Thả mình lượn về Tây hề phương tây yên bình
rập rờn ngũ cốc
Chuyển mình vút lên Đông hề trời đông quang
hoa rực rỡ nhiệm màu
Tiêu diêu như tiếng sáo trong veo
Tự do như hạc trắng tinh khiết
Võ trụ tứ phương đều là chốn ở
Tam giới cao thấp đều là bến về
Xoay vần của nhật nguyệt chẳng nằm ngoài
Càn Khôn
Biến chuyển của bốn mùa đều trong lòng Tạo
Hoá
Vạn linh vạn loại đều là con một gốc
Trăm duyên trăm kiếp cũng anh em một nhà
Vẫy vùng cho cao cũng không vượt ra ngoài
Khai hoang rộng khắp cũng vỏn vẹn nằm trong
Ấy cũng bởi ta thuộc về vũ trụ này vậy
Ấy cũng vì vũ trụ này chính thực là ta
Nên ta sao thoát ra ngoài ta được
Mà ngược lại ta đang tự do tự tại trong
mình
Gieo duyên thiện nâng niu những anh em hoạn
nạn
Kết duyên lành bạn bè với chư vị thanh tao
Tổn thương nhau thực là đang làm đau chính
mình
Biết mình là ai giữa võ trụ vô biên
Giữ mình hồn nhiên trong an yên vô hạn
Chúng ta đích thị là một cánh hạc trắng
trong tinh khiết
Tiêu diêu như tiếng sáo trong veo thiện
lành.
-------------
Thất Thập Nhị Địa Giới
Địa Hoàn Giới - Địa Cầu
* Khởi nguyên Tam Giới hình thành từ thuở
Hỗn Độn sơ khai gồm có
o Thượng Giới
- Được chia thành chín tầng lớp không gian
từ thanh tịnh tinh khiết nhất, gần với Thái Cực nhất cho đến gần với các tinh
cầu hữu hình gọi là Cửu Trùng Thiên, gọi tắt là Cửu Thiên tức là chín tầng
trời.
- Trong Cửu Thiên lại có Tam Thập Lục
Thiên, là 36 cõi Thiên Giới nằm rải rác đan xen lẫn nhau trong khắp Cửu Thiên.
o Trung Giới
- Được chia thành bốn khu vực theo bốn
phương nên gọi là Tứ Đại Bộ Châu gồm:
-- Tây Ngưu Hóa Châu
-- Đông Thắng Thần Châu
-- Nam Thiệm Bộ Châu
-- Bắc Câu Lưu Châu
- Trong đó Tây Ngưu Hóa Châu là tinh tấn
nhất, lành nhất trong bốn cõi, khắp nơi là cảnh thanh bình yên tịnh, muôn sinh sống
hòa đồng với nhau gần giống với các cõi nơi Thượng Giới, tuy nhiên vẫn còn một
số vướng mắc về danh quyền, phúc lộc.
- Đông Thắng Thần Châu thì chúng sinh nơi
này có sự tu tập, bớt đau khổ hơn so với chúng sinh nơi cõi Nam Thiệm Bộ Châu,
tuy nhiên chấp niệm vẫn còn rất nhiều về gia đạo và danh lợi quyền, một dạng
Đạo cũng muốn mà đời cũng chuộng đó vậy.
- Nam Thiệm Bộ Châu là cõi hỗn loạn, thiện
ác đủ đầy mọi sự, chúng sinh nơi này khó lòng từ bỏ các chấp niệm của mình nên
họ thường nhìn thấy sự khổ não vô cùng trong sự tồn tại của mình. Nhưng mà, họ
vẫn còn hạt giống thiện lành để hồi hướng về Chân Thiện Mỹ. Địa Cầu chúng ta
đang sống thuộc khu vực Nam Thiệm Bộ Châu, có Thái Dương Hệ, có mặt trời soi
sáng ấm áp.
- Bắc Câu Lưu Châu là cõi nặng nề, thiếu
ánh sáng, các cõi giới nơi này được xem là nơi cư ngụ của các tà linh ác thú.
Phần lớn U Minh Giới đều trực thuộc khu vực Bắc Câu Lưu Châu này. Chúng sinh
trong cõi này và các cõi Hạ Giới trực thuộc đều rất khó tu tập, do chấp niệm
nặng nề vào các sự tham sân si đầy đau khổ.
o Hạ Giới
Gồm có 72 tinh cầu lớn gọi là Thất Thập Nhị
Địa và 3000 tinh thể lớn nhỏ khác nhau gọi là Tam Thiên Thế Giới. Tất cả 3072
tinh cầu, tinh thể này nằm rải rác khắp bốn phương, trực thuộc Tứ Đại Bộ Châu.
* Vũ trụ Tam Giới hiện tại
Về số lượng các cõi giới của Tam Giới chỉ
là con số ban đầu của thuở sơ khai khi vũ trụ mới hình thành. Về sau này, theo
thời gian, không gian thay đổi ngày càng mở rộng vô cùng vô tận, các tinh cầu
bị hủy diệt, tái tạo, rồi kết tụ thành các tinh cầu mới… thêm nữa là việc kiến
tạo các cõi giới đặc biệt ở Trung Giới và Thượng Giới bởi thệ nguyện, ý niệm,
lực tinh thần mãnh liệt của những chơn hồn có tu tập tinh tấn cao làm cho vũ
trụ ngày nay hàng hà sa số, thiên biến vạn hóa vô cùng chẳng thể nghĩ bàn.
* Thất Thập Nhị Địa Giới
- Thất Thập Nhị Địa Giới hay gọi tắt là
Thất Thập Nhị Địa, là 72 cõi Địa Hoàn thuộc Hạ Giới tư thuở ban sơ vũ trụ. Các
cõi Địa Hoàn này, còn được gọi là Địa Cầu hay Tinh Cầu. Là các cõi giới hữu
hình mắt thường có thể nhìn thấy được.
- 72 Địa Giới này được đánh số thứ tự từ Đệ
Nhất Địa Cầu cho đến Đệ Thất Thập Nhị Địa Cầu. Sự tinh tấn, thanh nhẹ giảm dần
cho đến trọng trược từ Đệ Nhất Địa Cầu cho đến Đệ Thất Thập Nhị Địa Cầu.
- Các Địa Cầu này, tuy tồn tại hữu hình,
nhưng cảnh giới lại thuộc về cá nhân riêng biệt, chẳng chúng sinh nào của địa
cầu 1 có thể nhìn thấy chúng sinh của địa cầu 2 bằng mắt thường phàm tục.
Tức là dù cho trình độ khoa học kỹ thuật
tinh tấn vô cùng hiện đại thì chúng sinh các địa cầu này hoàn toàn không thể nhìn
thấy nhau, giao tiếp với nhau trên phương diện sắc tướng hữu hình. Ta tạm hiểu
giống như kiểu cùng tồn tại trong vũ trụ nhưng ở các chiều không gian song song
với nhau, hoàn toàn độc lập riêng biệt.
- Chúng ta đang ở là Địa Cầu số 68, gọi là
Đệ Lục Thập Bát Địa Cầu. Phương vị ở hướng Nam vũ trụ pháp giới, thuộc khu vực
Nam Thiệm Bộ Châu.
Các Địa Cầu số 69, 70, 71, 72 ở khu vực Bắc
Câu Lưu Châu, vì khí ô trược nặng nề, đầy dẫy âm khí thiếu dương khí mà các cõi
Địa Cầu ấy không có sinh vật sống hữu hình sắc tướng. Chỉ có chúng sinh hữu
tình vô sắc tướng, thuộc dạng linh thể, âm linh cư trú mà thôi.
Các Địa Cầu từ 67 trở lên tới Địa Cầu số 1
thì sự tinh tấn cả về trí thức tinh thần, lẫn thần thông đều hơn hẳn chúng ta ở
cõi này.
Phải tu tập tinh tấn thì mới chuyển sinh về
các cõi ấy.
- Đường đi của một chân hồn muốn trở về Cội
Đạo, Đào Nguyên thì phải trải qua trăm muôn ngàn kiếp, nếm trải những khổ đau,
ngọt bùi của thế tục thường tình. Qua bao sự khổ thì tinh thần, ngộ tính ngày
một gần hơn với Đức Thiên Lương, Phật Tánh bên trong mỗi người. Người nào có
phước đức thiện nghiệp nhiều hơn ác nghiệp thì chuyển sinh luân hồi theo con
đường 72 Địa Cầu này, cứ vậy mà tinh tấn lên mãi.
- Đứng bậc đế vương nơi địa cầu 68 này,
cũng chỉ như người bình thường ở Địa Cầu 67. Đứng bậc đế vương ở địa cầu 67
cũng chỉ như người bình thường ở Địa Cầu 66… cứ như thế, cho đến khi Chân hồn
chuyển sinh vào tam Thiên Thế Giới, rồi lại vào 4 Đại Bộ Châu, rồi lên Tam Thập
Lục Thiên. Tu thêm nhiều nữa, cho thật thanh tĩnh, thuần lương thanh tịnh,
thiên chân đủ đầy, giác ngộ, thiện hành viên mãn tròn đầy chẳng còn vướng bụi
trần. Khi ấy mới nhập vào Niết Bàn, về Bạch Ngọc Kinh, Cực Lạc Thế Giới, Đào
Nguyên vậy.
- Mỗi Địa Cầu có một Đức Thiên Đế, hay được
gọi với tôn danh là Đức Hoàng Thiên cai quản toàn bộ chúng sinh cả hữu hình lẫn
vô hình sinh tồn nơi Địa Cầu ấy.
- Về phần mặt đất, núi non, rừng thẳm nơi
Hạ Giới của Địa Cầu, sẽ có một Đức Hậu Thổ cai quản toàn bộ sự sống nơi mặt
đất. Đức Hậu Thổ này, thường được gọi thân mật là Đất Mẹ, Mẹ Thiên Nhiên, Thanh
Lương Địa Bồ Tát vậy.
- Mỗi khu vực như là Châu Lục, Quốc Gia,
Tỉnh, Huyện, Thị Xã, Phường Ấp, Gia Trạch sẽ có một hoặc nhiều vị Chánh Thần
cùng cai quản.
- Hệ thống sông ngòi, suối, kênh, rạch, ao
hồ, biển cũng có các vị Thủy Thần cai quản chúng sinh sống nơi Thủy Vực của
mình.
* Sự chuyển mình của Địa Cầu
- Tùy vào sự tinh tấn, hoặc là tha hóa của
chúng sinh nơi mặt Địa Cầu mà Địa Cầu sẽ chia thành các giai đoạn Sinh Trụ Hoại
Diệt.
Giai đoạn Sinh, khắp nơi sự sống sẽ được sinh
sôi, đơm chồi nảy lộc. Sự sống này phát triển mạnh mẽ, hướng đến đời sống sung
túc no ấm.
- Giai đoạn Trụ là giai đoạn chúng sinh đầy
ắp khắp nơi. Sự sống muôn hình vạn trạng. Từ đó mà nảy sinh các sự xung đột của
việc tranh giành quyền lợi trong cuộc sống vì các tài nguyên thiên nhiên hạn
hữu.
- Giai đoạn Hoại là giai đoạn các sự tranh
giành ngày càng gia tăng đến cùng cực, bởi các mâu thuẫn giành tài nguyên hạn
hữu leo thang đỉnh điểm.
- Giai đoạn Diệt là các sự tranh giành ấy
dẫn đến diệt vong hàng loạt để Địa Cầu tự tái tạo lại môi trường sống trù phú
như thuở ban đầu ít có các loài động vật và con người.
- 4 giai đoạn ấy diễn ra trong khoảng thời
gian dài được gọi là Chuyển, tức quá trình chuyển biến trở mình thay đổi của
Địa Cầu. 1 Chuyển sẽ có đầy đủ 4 giai đoạn Sinh Trụ Hoại Diệt.
- Mỗi một Chuyển có 36.000 năm, chia thành
3 Nguyên là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Mỗi Nguyên như thế là
12.000 năm vậy.
Như vậy, ta có thể hiểu rằng trong 1 Chuyển
thì
Thượng Nguyên là giai đoạn Sinh - Trụ
Trung Nguyên là giai đoạn Trụ Hoại
Hạ Nguyên là Hoại Diệt
Sau khi Diệt xong kết thúc 1 Chuyển, sẽ
bước qua 1 Chuyển mới với mốc Thượng Nguyên là Sinh - Trụ.
- Hiện tại, Địa Cầu chúng ta đang ở có nền
văn minh thuộc giai đoạn Hạ Nguyên Tam Chuyển bước sang Thượng Nguyên Tứ
Chuyển.
Nền văn minh của loài người nơi mặt Địa Cầu
này, đã tồn tại sắp hết 3 Chuyển, tức khoảng chừng 108.000 năm.
- Nhìn lại lịch sử nhân loại qua nghiên cứu
di tích khảo cổ, loài người cũng chỉ mới hé lộ được chừng vài chục ngàn năm văn
minh trước đây.
- Theo điển tịch được lưu truyền tới nay
của một số kinh sách các tôn giáo thì các vị vĩ nhân người ta có thể biết được
nhiều thông tin cũng chỉ khoảng 5000 năm trở lại đây. So với con số 108.000 thì
thật là nhỏ bé vô cùng vậy.
- Trong giai đoạn Hạ Nguyên bước sang
Thượng Nguyên, tức là hoại diệt những cái cũ không còn phù hợp nữa, bước sang
sự sinh trụ những cái mới cấp tiến, tinh tấn và phù hợp với sự tiến hóa của Địa
Cầu vậy. Mỗi lần hoại diệt như thế, Địa Cầu sẽ có đại diệt xảy đến bởi thiên
tai, dịch bệnh, chiến tranh. Một lượng rất lớn chúng sinh sẽ bị hoại diệt,
thường là khoảng 9/10 phần. Chỉ còn 1/10 mà thôi, lúc ấy Địa Cầu sẽ dần phục
hồi lại để tất thảy các sự sống còn lại ấy có thể sinh tồn phát triển tốt nhất
có thể.
Tam Giới Toàn Thư 8
Ảnh sưu tầm
-----------------
“Khổ là gì?
Chưa ai biết Khổ hay sao?
Bần Đạo nói cho chư hiền khá rõ.
Chúng sinh vừa sinh ra đã khổ, sinh khổ -
lão khổ - bệnh khổ - tử khổ, ái khổ - ly biệt khổ - oán khổ, cầu bất đắc khổ,
ngũ uẩn khổ, muôn nghìn sự khổ.
Tu là khổ hạnh, thương chư hiền gấm hoa phú
quý đổi lấy nâu sòng. Chưa biết khổ thì học cho biết khổ. Chư Tiên Phật đều
phải kinh qua sự khổ của vạn linh sanh chúng mới tường tận, mới biết cách hóa
độ vạn loại. Cái khổ chung của chúng sanh lắm đỗi thường tình, học không xong
thì chẳng đáng Đạo sĩ.
Ngũ uẩn giai không mới tỏ tường Bát Nhã.
Thuyền Bát Nhã đưa linh khá giữ
Khéo tay chèo, vạn sự không không
Một lòng gắng sức nên công
Xây cơ tận độ khởi dòng thiện lương
Miền Cực Lạc soi đường dẫn bước
Đem hình hài đến trước Thiên Cung
Hồng ân Phật Thánh khoan dung
Độ linh khắp chốn về mừng Chí Tôn.”
18.02. Canh Tý
( 11/03/2020 )
Tự Tại Thiên Tử - Quan Âm Bồ Tát
-----------------
Vô Tự Kinh
* Nguồn gốc
- Vô Tự Kinh là quyển kinh không có chữ.
- Là quyển sách quý, chỉ những ai đủ duyên
thì nhìn vào Kinh này mới thấy được hình ảnh hay chữ viết hiển thị.
- Vô Tự Kinh được tạo nên nhằm mục đích lựa
chọn đúng đối tượng phù hợp được xem nội dung mà tác giả Vô Tự Kinh muốn gởi
gắm đến độc giả vậy.
- Vô Tự Kinh là cụm từ ám chỉ về những kinh
nghiệm, huyền công, bí pháp đặc biệt mà không được viết lại thành văn tự rõ
ràng, có khi đó là những hình ảnh mang tính mật ngữ chờ người đủ duyên ngộ tính
giải được nội dung ấy.
* Hình dạng và tính chất đặc trưng
- Vô Tự Kinh có hình dạng một quyển sách mà
trong ấy chỉ toàn là những trang giấy trắng với bìa sách có khi cũng chẳng đề
chữ chi cả.
- Vô Tự Kinh khi tồn tại lâu năm, hấp thu
linh khí Thiên Địa đủ để tự thức tỉnh linh tánh của mình thì có thể thị hiện
thân ảnh nhân dạng, gọi là Thư Linh Tử hay Điển Linh Tử. Thân ảnh này thường là
hình ảnh của chủ nhân đã sáng tác nên quyển Vô Tự Kinh ấy. Có khi lại thị hiện
thành hình ảnh các dạng tồn tại được đề cập trong Vô Tự Kinh ấy, nhất là nhân
vật hoặc lý sự chính xuyên suốt nội dung lưu trữ trong kinh.
- Phần nội dung được lưu giữ trong kinh
cũng chính là phần tri thức, năng lực đặc trưng và tính cách của Thư Linh Tử.
- Vô Tự Kinh là một cầu nối trung gian đặc
biệt đảm bảo được việc nội dung thông tin quan trọng được lưu truyền đến đúng
đối tượng cần truyền một cách bí mật. Thông tin không thể bị người vô duyên
đánh cắp nội dung ấy mà chưa được sự đồng ý của người tạo nên kinh đó, hoặc là
sự đồng ý của truyền nhân kế thừa nội dung kinh.
- Nhằm mục đích bảo vệ Vô Tự Kinh không bị
người ta dòm ngó, tranh giành chiếm đoạt thì tác giả thường ngụy trang Vô Tự
Kinh trông như một quyển sách bình thường, không có gì đặc biệt.
* Vô Tự Kinh nơi Diệt Hình Cung ở cõi Xích
Thiên trong Cửu Trùng Thiên
- Là quyển kinh văn được đặt nơi chánh điện
của Diệt Hình Cung. Kinh này chỉ toàn giấy trắng. Khi nhìn vào đấy người ta có
thể thấy được đường đi của nhân quả tình duyên. Gieo nhân gì, thiện ác nghiệp
của nhân ấy ra sao, có thể gặt những quả ngọt đắng thế nào. Nếu quyết tâm thay
đổi đường đi của nhân duyên, thì có thể chuyển hóa theo hướng tích cực ra sao.
- Việc nhìn thấy các nhân duyên nghiệp quả
này duy chỉ có chính người đang xem kinh thấy lý sự của mình mà thôi. Nhưng khi
người ấy quyết định chia sẻ, mở lòng mình với người nào đó ở gần đấy thì người
ta cũng có thể nhìn thấy những gì trong Vô Tự Kinh này biến hiện ra.
- Có thể xem được Vô Tự Kinh là nhân duyên
tốt lành của một chân hồn khi về được cõi Xích Thiên. Dù về nơi đấy bằng phương
thức gì, do trợ lực của chư Chánh Thần cùng lời nguyện cầu thành tâm và thiện
nghiệp của thân nhân họ, hay là do chính thiện nghiệp của họ khiến họ đủ tư
cách để được đưa đến đây.
- Chân hồn xem Vô Tự Kinh cũng có cơ hội
được hiểu rõ hết thảy một cách minh bạch những gì họ từng nghĩ, nói và làm
trong nhiều các kiếp sinh nhiều đời kiếp của mình trải qua.
- Việc này trợ duyên rất nhiều cho sự thấu
hiểu chính mình, hồi quang phản chiếu mạnh mẽ căn duyên nghiệp quả. Từ đó chân
hồn đã xem qua Vô Tự Kinh nhân duyên nghiệp quả chính mình sẽ ý thức được rõ
hơn sự tồn tại của mình trong Tam Giới, tại sao họ ở đấy, họ sinh ra vì cái gì,
làm gì để giá trị sinh tồn của mình có ý nghĩa tích cực.
* Vô Tự Kinh được nhắc đến trong kinh điển
Kinh Đệ Tứ Cửu - Cửu Thiên Thập Nhị Kinh -
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ
Cõi Xích Thiên vội mở ải quan
Thiên Quân diêu động linh phan
Cả miền Thánh Vực nhộn nhàng tiếp nghinh
Đài Chiếu Giám Cảnh Minh nhẹ bước
Xem rõ ràng tội phước căn sinh
Lần vào Cung Ngọc Diệt Hình
Khai Kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên
Đắc văn sách thông Thiên định Địa
Phép huyền công trụ nghĩa hóa thân
Kị Kim Quang kiến Lão Quân
Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.
Tam Giới Toàn Thư 8
-----------------
Thất Thập Nhị Địa Giới
Địa Hoàn Giới - Địa Cầu
* Khởi nguyên Tam Giới hình thành từ thuở
Hỗn Độn sơ khai gồm có
o Thượng Giới
- Được chia thành chín tầng lớp không gian
từ thanh tịnh tinh khiết nhất, gần với Thái Cực nhất cho đến gần với các tinh
cầu hữu hình gọi là Cửu Trùng Thiên, gọi tắt là Cửu Thiên tức là chín tầng trời.
- Trong Cửu Thiên lại có Tam Thập Lục
Thiên, là 36 cõi Thiên Giới nằm rải rác đan xen lẫn nhau trong khắp Cửu Thiên.
o Trung Giới
- Được chia thành bốn khu vực theo bốn
phương nên gọi là Tứ Đại Bộ Châu gồm:
-- Tây Ngưu Hóa Châu
-- Đông Thắng Thần Châu
-- Nam Thiệm Bộ Châu
-- Bắc Câu Lưu Châu
- Trong đó Tây Ngưu Hóa Châu là tinh tấn
nhất, lành nhất trong bốn cõi, khắp nơi là cảnh thanh bình yên tịnh, muôn sinh
sống hòa đồng với nhau gần giống với các cõi nơi Thượng Giới, tuy nhiên vẫn còn
một số vướng mắc về danh quyền, phúc lộc.
- Đông Thắng Thần Châu thì chúng sinh nơi
này có sự tu tập, bớt đau khổ hơn so với chúng sinh nơi cõi Nam Thiệm Bộ Châu,
tuy nhiên chấp niệm vẫn còn rất nhiều về gia đạo và danh lợi quyền, một dạng
Đạo cũng muốn mà đời cũng chuộng đó vậy.
- Nam Thiệm Bộ Châu là cõi hỗn loạn, thiện
ác đủ đầy mọi sự, chúng sinh nơi này khó lòng từ bỏ các chấp niệm của mình nên
họ thường nhìn thấy sự khổ não vô cùng trong sự tồn tại của mình. Nhưng mà, họ
vẫn còn hạt giống thiện lành để hồi hướng về Chân Thiện Mỹ. Địa Cầu chúng ta
đang sống thuộc khu vực Nam Thiệm Bộ Châu, có Thái Dương Hệ, có mặt trời soi
sáng ấm áp.
- Bắc Câu Lưu Châu là cõi nặng nề, thiếu
ánh sáng, các cõi giới nơi này được xem là nơi cư ngụ của các tà linh ác thú.
Phần lớn U Minh Giới đều trực thuộc khu vực Bắc Câu Lưu Châu này. Chúng sinh
trong cõi này và các cõi Hạ Giới trực thuộc đều rất khó tu tập, do chấp niệm
nặng nề vào các sự tham sân si đầy đau khổ.
o Hạ Giới
Gồm có 72 tinh cầu lớn gọi là Thất Thập Nhị
Địa và 3000 tinh thể lớn nhỏ khác nhau gọi là Tam Thiên Thế Giới. Tất cả 3072
tinh cầu, tinh thể này nằm rải rác khắp bốn phương, trực thuộc Tứ Đại Bộ Châu.
* Vũ trụ Tam Giới hiện tại
Về số lượng các cõi giới của Tam Giới chỉ
là con số ban đầu của thuở sơ khai khi vũ trụ mới hình thành. Về sau này, theo
thời gian, không gian thay đổi ngày càng mở rộng vô cùng vô tận, các tinh cầu
bị hủy diệt, tái tạo, rồi kết tụ thành các tinh cầu mới… thêm nữa là việc kiến
tạo các cõi giới đặc biệt ở Trung Giới và Thượng Giới bởi thệ nguyện, ý niệm,
lực tinh thần mãnh liệt của những chơn hồn có tu tập tinh tấn cao làm cho vũ
trụ ngày nay hàng hà sa số, thiên biến vạn hóa vô cùng chẳng thể nghĩ bàn.
* Thất Thập Nhị Địa Giới
- Thất Thập Nhị Địa Giới hay gọi tắt là
Thất Thập Nhị Địa, là 72 cõi Địa Hoàn thuộc Hạ Giới tư thuở ban sơ vũ trụ. Các
cõi Địa Hoàn này, còn được gọi là Địa Cầu hay Tinh Cầu. Là các cõi giới hữu
hình mắt thường có thể nhìn thấy được.
- 72 Địa Giới này được đánh số thứ tự từ Đệ
Nhất Địa Cầu cho đến Đệ Thất Thập Nhị Địa Cầu. Sự tinh tấn, thanh nhẹ giảm dần
cho đến trọng trược từ Đệ Nhất Địa Cầu cho đến Đệ Thất Thập Nhị Địa Cầu.
- Các Địa Cầu này, tuy tồn tại hữu hình,
nhưng cảnh giới lại thuộc về cá nhân riêng biệt, chẳng chúng sinh nào của địa
cầu 1 có thể nhìn thấy chúng sinh của địa cầu 2 bằng mắt thường phàm tục.
Tức là dù cho trình độ khoa học kỹ thuật
tinh tấn vô cùng hiện đại thì chúng sinh các địa cầu này hoàn toàn không thể
nhìn thấy nhau, giao tiếp với nhau trên phương diện sắc tướng hữu hình. Ta tạm
hiểu giống như kiểu cùng tồn tại trong vũ trụ nhưng ở các chiều không gian song
song với nhau, hoàn toàn độc lập riêng biệt.
- Chúng ta đang ở là Địa Cầu số 68, gọi là
Đệ Lục Thập Bát Địa Cầu. Phương vị ở hướng Nam vũ trụ pháp giới, thuộc khu vực
Nam Thiệm Bộ Châu.
Các Địa Cầu số 69, 70, 71, 72 ở khu vực Bắc
Câu Lưu Châu, vì khí ô trược nặng nề, đầy dẫy âm khí thiếu dương khí mà các cõi
Địa Cầu ấy không có sinh vật sống hữu hình sắc tướng. Chỉ có chúng sinh hữu
tình vô sắc tướng, thuộc dạng linh thể, âm linh cư trú mà thôi.
Các Địa Cầu từ 67 trở lên tới Địa Cầu số 1
thì sự tinh tấn cả về trí thức tinh thần, lẫn thần thông đều hơn hẳn chúng ta ở
cõi này.
Phải tu tập tinh tấn thì mới chuyển sinh về
các cõi ấy.
- Đường đi của một chân hồn muốn trở về Cội
Đạo, Đào Nguyên thì phải trải qua trăm muôn ngàn kiếp, nếm trải những khổ đau,
ngọt bùi của thế tục thường tình. Qua bao sự khổ thì tinh thần, ngộ tính ngày
một gần hơn với Đức Thiên Lương, Phật Tánh bên trong mỗi người. Người nào có
phước đức thiện nghiệp nhiều hơn ác nghiệp thì chuyển sinh luân hồi theo con
đường 72 Địa Cầu này, cứ vậy mà tinh tấn lên mãi.
- Đứng bậc đế vương nơi địa cầu 68 này,
cũng chỉ như người bình thường ở Địa Cầu 67. Đứng bậc đế vương ở địa cầu 67
cũng chỉ như người bình thường ở Địa Cầu 66… cứ như thế, cho đến khi Chân hồn
chuyển sinh vào tam Thiên Thế Giới, rồi lại vào 4 Đại Bộ Châu, rồi lên Tam Thập
Lục Thiên. Tu thêm nhiều nữa, cho thật thanh tĩnh, thuần lương thanh tịnh,
thiên chân đủ đầy, giác ngộ, thiện hành viên mãn tròn đầy chẳng còn vướng bụi trần.
Khi ấy mới nhập vào Niết Bàn, về Bạch Ngọc Kinh, Cực Lạc Thế Giới, Đào Nguyên
vậy.
- Mỗi Địa Cầu có một Đức Thiên Đế, hay được
gọi với tôn danh là Đức Hoàng Thiên cai quản toàn bộ chúng sinh cả hữu hình lẫn
vô hình sinh tồn nơi Địa Cầu ấy.
- Về phần mặt đất, núi non, rừng thẳm nơi
Hạ Giới của Địa Cầu, sẽ có một Đức Hậu Thổ cai quản toàn bộ sự sống nơi mặt
đất. Đức Hậu Thổ này, thường được gọi thân mật là Đất Mẹ, Mẹ Thiên Nhiên, Thanh
Lương Địa Bồ Tát vậy.
- Mỗi khu vực như là Châu Lục, Quốc Gia,
Tỉnh, Huyện, Thị Xã, Phường Ấp, Gia Trạch sẽ có một hoặc nhiều vị Chánh Thần
cùng cai quản.
- Hệ thống sông ngòi, suối, kênh, rạch, ao
hồ, biển cũng có các vị Thủy Thần cai quản chúng sinh sống nơi Thủy Vực của
mình.
* Sự chuyển mình của Địa Cầu
- Tùy vào sự tinh tấn, hoặc là tha hóa của
chúng sinh nơi mặt Địa Cầu mà Địa Cầu sẽ chia thành các giai đoạn Sinh Trụ Hoại
Diệt.
Giai đoạn Sinh, khắp nơi sự sống sẽ được
sinh sôi, đơm chồi nảy lộc. Sự sống này phát triển mạnh mẽ, hướng đến đời sống
sung túc no ấm.
- Giai đoạn Trụ là giai đoạn chúng sinh đầy
ắp khắp nơi. Sự sống muôn hình vạn trạng. Từ đó mà nảy sinh các sự xung đột của
việc tranh giành quyền lợi trong cuộc sống vì các tài nguyên thiên nhiên hạn
hữu.
- Giai đoạn Hoại là giai đoạn các sự tranh
giành ngày càng gia tăng đến cùng cực, bởi các mâu thuẫn giành tài nguyên hạn
hữu leo thang đỉnh điểm.
- Giai đoạn Diệt là các sự tranh giành ấy
dẫn đến diệt vong hàng loạt để Địa Cầu tự tái tạo lại môi trường sống trù phú
như thuở ban đầu ít có các loài động vật và con người.
- 4 giai đoạn ấy diễn ra trong khoảng thời
gian dài được gọi là Chuyển, tức quá trình chuyển biến trở mình thay đổi của
Địa Cầu. 1 Chuyển sẽ có đầy đủ 4 giai đoạn Sinh Trụ Hoại Diệt.
- Mỗi một Chuyển có 36.000 năm, chia thành
3 Nguyên là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Mỗi Nguyên như thế là
12.000 năm vậy.
Như vậy, ta có thể hiểu rằng trong 1 Chuyển
thì
Thượng Nguyên là giai đoạn Sinh - Trụ
Trung Nguyên là giai đoạn Trụ Hoại
Hạ Nguyên là Hoại Diệt
Sau khi Diệt xong kết thúc 1 Chuyển, sẽ
bước qua 1 Chuyển mới với mốc Thượng Nguyên là Sinh - Trụ.
- Hiện tại, Địa Cầu chúng ta đang ở có nền
văn minh thuộc giai đoạn Hạ Nguyên Tam Chuyển bước sang Thượng Nguyên Tứ
Chuyển.
Nền văn minh của loài người nơi mặt Địa Cầu
này, đã tồn tại sắp hết 3 Chuyển, tức khoảng chừng 108.000 năm.
- Nhìn lại lịch sử nhân loại qua nghiên cứu
di tích khảo cổ, loài người cũng chỉ mới hé lộ được chừng vài chục ngàn năm văn
minh trước đây.
- Theo điển tịch được lưu truyền tới nay
của một số kinh sách các tôn giáo thì các vị vĩ nhân người ta có thể biết được
nhiều thông tin cũng chỉ khoảng 5000 năm trở lại đây. So với con số 108.000 thì
thật là nhỏ bé vô cùng vậy.
- Trong giai đoạn Hạ Nguyên bước sang
Thượng Nguyên, tức là hoại diệt những cái cũ không còn phù hợp nữa, bước sang
sự sinh trụ những cái mới cấp tiến, tinh tấn và phù hợp với sự tiến hóa của Địa
Cầu vậy. Mỗi lần hoại diệt như thế, Địa Cầu sẽ có đại diệt xảy đến bởi thiên
tai, dịch bệnh, chiến tranh. Một lượng rất lớn chúng sinh sẽ bị hoại diệt, thường
là khoảng 9/10 phần. Chỉ còn 1/10 mà thôi, lúc ấy Địa Cầu sẽ dần phục hồi lại để
tất thảy các sự sống còn lại ấy có thể sinh tồn phát triển tốt nhất có thể.
Tam Giới Toàn Thư 8
-----------------
KHUYÊN ĐỪNG GIẾT THÚ.🐒
(Trích từ nghi thức tụng niệm của hệ phái
Phật Giáo Khất Sĩ)
Muôn loài nào khác chi ta
Cũng tìm sự sống lánh xa tai nàn
Có cha mẹ, có họ hàng
Kết bè sinh hoạt, hiệp đoàn siêng năng
Ta đừng giết nó mà ăn
Cũng đừng bắt nó trói trăn, giam cầm
Bẫy, câu, chước độc mưu ngầm
Làm cho chúng nó âm thầm đớn đau
Lạc bầy dớn dác xôn xao
Lại e cái nạn thớt dao hầu gần
Mình có thân, nó cũng có thân
Nuôi mình, giết nó trái cân công bằng
Lâm mình cảnh ấy khổ chăng?
Giả như có kẻ bắt phăng chúng mình
Mẹ Cha, cô bác thảm tình
Xót xa đã lắm, bất bình biết bao
Ruột rà ai cắt chẳng đau
Tình thương ai dứt chăng đau gan vàng
Nếu ta suy nghĩ kỹ càng
Tình này, cảnh ấy rõ ràng tương thân
Làm người, ta có lòng nhân
Hãy khơi tánh Phật lần lần sáng ra
Người cùng muôn vật một nhà
Ta là anh chị, chúng là đàn em
Khôn hơn ta phải xét xem
Trông nôm giúp đỡ đàn em dại khờ
Khi lâm nạn chúng bơ vơ
Mau tay tiếp cứu chớ ngơ mắt nhìn
Thấy ai giết thác sinh linh
Lấy lời khuyên giải, dụng tình cản ngăn
Thú kia nó cũng là thân
Cũng xương, cũng thịt có phần như ta
Đánh đau chúng nó rên la
Tiếng rên đứt ruột, tiếng đau xé lòng
Tánh linh người vật cũng đồng
Xuống tay bao nỡ, cầm lòng sao đang
Thân ta thì muốn cho an
Mà thân kẻ khác lại toan xéo dày
Lòng ta muốn tránh nạn tai
Sao cùng kẻ yếu ra oai dữ dằn?
Nếu ta biết lẽ công bằng
Biết câu phước tội, biết căn luân hồi
Chớ nên giết nó đành rồi
Cũng đừng hành hạ tỏ lời dễ khinh
Chớ cho chúng khổ vì mình
Mở lòng thương xót tấm hình hài kia
Đừng làm chúng nó chia lìa
Con này xa mẹ, vợ kia cách chồng
Đừng bày cắt cổ nhổ lông
Việc làm cũng phải dự phòng về sau
Dây oan ai lại buột vào
Kiếp này gây nợ kiếp nào trả xong?
Muốn cho mình được thong dong
Đừng làm kẻ khác khổ lòng làm chi
Chớ gì một chút sân si
Mà bao oan trái kéo trì cuốn lôi
Muốn ra khỏi biển luân hồi
Quả kia phải hái cho rồi đừng gieo
Dừng chân là bóng chẳng theo
Nhơn tay thì nghiệp chẳng đeo bên mình
Ai ơi ! Nên khéo giữ gìn..
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ps: Theo thể thơ Lục Bát thì câu chót chỉ
có câu 6, thiếu câu 8. Vì vậy xin thêm một câu mà ngày xưa có từng đọc như sau:
“.....
Ai ơi! Nên khéo giữ gìn!…
Chớ nên giết thác sinh linh làm gì”
Thêm để cho có vần điệu dễ đọc và suông chứ
ko có ý chỉnh sửa nguyên bản.
Bài kinh nói lên lòng yêu thương giúp
trưởng dưỡng lòng từ bi đối với muôn loài, rất hợp cho mọi tầng lớp, mọi lứa
tuổi khi nghĩ về sự sống.
Ảnh từ web
-----------------
Cổ Pháp Tam Giáo
Xuân Thu tự cổ để răn mình
Định quốc an dân mới trọn Kinh
Phất Chủ quét tan phiền não sạch
Thoát phàm mới đặng hiệp Thần Minh
Bát Vu cổ pháp truyền Chân Giáo
Đoạn dục thập điều khuyến thiện sinh
Tam Giáo quy nguyên đồng nhất Lý
Bạch Vương tận độ khắp quần linh
Đức Thái Bạch Kim Tinh
18.08.2019 Nguyệt Lịch
Nhân kỷ niệm vía Đức Lý Thái Bạch Kim Tinh
Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Tranh sưu tầm
-----------------
Oán linh động vật và con người nơi thế gian
- Khi động vật bị sát mạng, đặc biệt khi
chết vì bị ăn sống nuốt tươi, oán linh ấy có thể dễ dàng tương tác để ám nhập
trực tiếp, hoặc đeo bám dai dẳng trên thân tâm những người đã ăn mình. Người
nào ăn mạng chúng sinh như vậy, sẽ có các biểu hiện mang tính chất đặc trưng
của chủng loài mà mình từng dùng đến.
+ Nếu ăn cá sống, dễ bị ngột ngạt, khó thở
khi trời nóng. Khao khát được đi chơi, tắm biển tắm sông, bơi lặn trong nước,
dễ bị thu hút vào những chỗ nước sâu rồi gặp tai nạn mà chết ngạt dưới nước.
+ Nếu ăn côn trùng sống, thường thích ra
ngoài vào ban đêm, hễ nghe tiếng côn trùng kêu gọi bầy giao phối thì nảy sinh
dục tình ham muốn nhục dục. Khi thấy thiên không kéo mây, trời chuyển mưa giông,
có sấm to gió lớn sẽ rất hoảng loạn trong tâm, bất an, bồn chồn trong lòng
chẳng thể tập trung làm được một việc gì cả. Thọ mạng ngắn ngủi do dễ bị sợ
hãi, yếu tim, yếu thần, dễ giật mình, dễ bị đột quỵ.
+ Nếu ăn rắn, mật rắn tươi, trứng hay rắn
con còn sống, sẽ có xu hướng thích bò trườn giống rắn. Có khi gặp các cá thể
loài rắn khác đến báo thù trực tiếp, cắn hữu hình mà bị độc nguy hiểm tới tính
mạng.
+ Người giết hại động vật bằng cách đập đầu
lấy thịt, oán linh ấy sẽ theo bám khiến người đó cảm thấy đau đầu như búa bổ,
thường xuyên nhức đầu inh ỏi chẳng thuốc thang nào cứu chữa được. Có khi đau
đến điên loạn dẫn đến xuất huyết mạch máu não mà chết, hoặc điên điên khùng
khùng chẳng biết mình là ai, đang làm gì.
+ Khi giết kiến và các loài côn trùng nhỏ
bé khác, người gây nên sát nghiệp sẽ bị các oán linh đó theo bám, bu lên thân
mình. Từ đó trong thân, tâm luôn có cảm giác ngứa ngáy, nhột như kiến bò, ong
chích.
+ Người thích ăn ốc, các loại cá, tôm, mực
trứng, các loài nhuyễn thể nhỏ bé sẽ dễ bị nổi u nhọt chân tay, các chứng bệnh
da liễu, viêm, ung… Tinh thần đầu óc có xu hướng dễ xung đột với người trong
gia đình, thích sống xa nhà, khó đoàn tụ.
+ Người thích ăn thịt chó, mèo, trâu, ngựa,
rắn, rùa dễ bị các oán linh ấy theo bám khiến đời sống trở nên u tối, dễ gặp
các chuyện không vừa ý, dễ xung đột và mắc các chứng rối loạn thần kinh, trầm
cảm, thọ mạng giảm nhiều.
+ Người hay ăn thịt dê, pín dê, cá ngựa,
hột vịt lộn, hoặc uống máu tươi các loài động vật thì dục vọng, ham muốn thể
xác nổi lên rất nhiều. Oán linh theo bám, oán khí nặng nề tích tụ trong thân
tâm, dễ khiến người ta ham muốn dục tình đến mất tự chủ bản thân, hoang dâm quá
độ mà trái lẽ luân thường đạo lý.
+ Người thường sát hại các loài chim, bẫy,
bắt, ăn thịt chúng thì dễ bị đau nhức xương khớp, có khi nặng đến bại liệt nằm
một chỗ chẳng nhúc nhích được, mất tự do. Đầu óc hay quên, suy nghĩ lang mang
chẳng tập trung được, nặng thì lú lẫn quên hết thân tộc ruột thịt của mình, đau
khổ bi thương vô cùng.
+ Người hay ăn nội tạng, phá lấu, tưởng
chừng sẽ được bồi bổ khí huyết, lục phủ ngũ tạng, nhưng thực ra lại khiến các
oán linh theo bám đòi lại các phần đã bị ăn ấy. Thế nên những người như vậy dễ
bị các chứng viêm, đau nhức nội tạng, ung thư gan, ruột, phổi…
+ Người thích trồng cây, nuôi thú mà để cho
cây và thú ấy bị đói khát thì tự nhiên cũng sẽ bị khô khốc miệng, cổ, thường
hay cảm thấy đói, khát liên tục.
+ Người thích nuôi chim lồng chật hẹp, cá
chậu nhỏ hẹp, để cho các sinh linh ấy chịu khổ chẳng khác nào tù đày, rồi chết
dần chết mòn trong tù túng thì dễ bị lạnh tay chân, cơ thể mắc các chứng bệnh
thấp nhiệt, tụt huyết áp. Lại hay bị người xung quanh xa lánh, phải sống trong
tù túng lẩn quẩn của bản thân vậy.
Trích từ Oán linh động vật, Tam Giới Toàn
Thư
Hình ảnh theo trang
-----------------
Thiên Địa Thụ
Thánh Mẫu Thụ
* Nguồn gốc
- Từ thời tối cổ, trong vũ trụ xuất hiện
một Đại Linh Mộc vĩ đại vô cùng tận, bất khả tư nghị. Cây có thân là một thông
đạo liên thông giữa các cõi giới trong Tam Giới với nhau, nên được biết đến với
tên gọi Thế Giới Thụ, Vũ Trụ Thụ, Thiên Địa Thụ. Ngoài ra, ở các nền văn hóa
tín ngưỡng khác nhau cây còn được biết đến với tên gọi Đại Xuân, Thánh Mẫu Thụ,
Sinh Mệnh Thụ, Yggdrasil.
- Thiên Địa Thụ thuộc nhóm Đại Linh Thụ, là
một trong những đại diện vô cùng đặc biệt và được biết đến với nhiều nền văn
hóa, ngôn ngữ thuộc các vùng miền, tín ngưỡng dân tộc khác nhau
* Hình dạng và tính chất đặc trưng
- Thiên Địa Thụ giống như Bàn Đào nơi Đào
Nguyên của Đức Từ Mẫu vậy, to lớn vĩ đại vô cùng, chẳng thể thấy nổi toàn bộ
thân ảnh do thân ảnh cây thần và các tán lá to lớn ẩn hiện lẩn khuất trong
những tầng mây.
- Thiên Địa Thụ xuất hiện từ thời tối cổ,
là tạo vật đặc biệt của Thiên Địa, kết tinh linh khí Thiên Địa muôn đời muôn
kiếp, thế nên cây thần ấy trường tồn bất diệt và lớn dần thêm theo không gian
và thời gian.
Nơi thân cây ấy, tán cây ấy có những cõi
giới, pháp giới riêng biệt được nuôi dưỡng và duy trì tồn tại bởi chính nguồn
linh khí dồi dào vô tận của cây, nên cây còn được gọi là Thánh Mẫu Thụ.
- Cây tồn tại ở dạng linh thể vô hình, có
thể thị hiện thân ảnh Đại Linh Thụ, thân ảnh nhân dạng, là nam tử hoặc nữ nhân,
hay là lão tiên nhân, lão bà bà hay các loài Linh Thú khác nhau… tùy theo việc
hóa độ nhân duyên với chúng sinh cõi giới nào mà thị hiện cho phù hợp như thế.
-- Ví như giữa cõi giới của loài côn trùng,
thảo mộc thì cây sẽ hiển hóa thị hiện thành một loài côn trùng hay thảo mộc đặc
trưng dễ tiếp cận, dễ cảm mến của chúng sinh các giống loài ấy.
-- Hoặc như giữa cộng đồng loài người, với
dân tộc yêu quý sự trẻ trung tươi đẹp thì cây có thể thị hiện thân ảnh là nam
tử nữ nhân dạng với nét đẹp tao nhã trẻ trung tươi tắn.
-- Hay giống dân nào yêu thích tôn thờ nét
đẹp của sự trải nghiệm, già dặn thì cây sẽ thị hiện thành hình tướng lão nhân
râu tóc bạc phơ hay lão bà bà với đôi mắt tinh anh thông hiểu các lý sự trong
Tam Giới mà độ duyên cho giống dân ấy.
-- Đối với nơi tôn thờ Thánh Mẫu, theo chế
độ Mẫu hệ thì cây sẽ thị hiện thân ảnh thành một vị Thánh Mẫu từ bi hiền hòa để
gần gũi và độ duyên cho chúng dân nơi ấy.
- Cây có thể đơm hoa kết quả nhiều loại
hình thái khác nhau theo từng mùa, từng vùng miền, từng cõi giới.
- Bản thân linh hồn cây thần thuộc Thiên
Tiên Hồn, tương đương cấp 9 trong Cửu Phẩm Thần Tiên nơi Thượng Giới.
- Thiên Địa Thụ tồn tại với mục đích gắn
kết các cõi giới khác nhau trong Tam Giới bằng sự nuôi dưỡng và dẫn dắt tâm
linh cho chúng sinh các cõi giới được hiểu về nhau, tin vào sự tồn tại của
nhau, nhìn về nhau bởi một mối dây liên kết chặt chẽ thông qua dòng linh khí
thiêng liêng của cây mà hình thành nên các thông đạo giữa các cõi giới ấy. Nhờ
vậy mà chúng sinh cũng dễ hiểu và dễ chấp nhận, dễ hình dung hơn về việc chúng
sinh trong Tam Giới có chung nguồn gốc là Cội Đạo mà nhìn nhận nhau là anh chị
em, tôn trọng sự tồn tại của nhau trong tình yêu thương hòa ái.
- Thiên Địa Thụ trải qua dòng thời gian với
Thiên Địa từ thời tối cổ đến nay, ngắm nhìn sự luân chuyển của chúng sinh các
cõi giới khác nhau mà vẫn giữ tâm tình bình lặng, yêu thương vô bờ, dùng tinh
hoa thiên địa mình hấp thu để luôn nuôi dưỡng chúng sinh và khơi gợi đức tin
nơi các cõi giới mình đang làm thông đạo cho các cõi ấy.
* Thiên Địa Thụ trong văn hóa tâm linh và
nghệ thuật.
- Nhiều ngàn năm trước, Thiên Địa Thụ xuất
hiện nơi cõi Hạ Giới này, được các nơi khác nhau diễn tả với tên gọi khác nhau
và hình thái thì gần giống nhau.
-- Thiên Địa Thụ với văn hóa Bắc Âu
Người ta gọi Thiên Địa Thụ là Yggdrasil với
các truyền thuyết có 9 thế giới khác nhau được liên kết với cây thần.
Từ ý tưởng này, có rất nhiều sự khai thác
về hình tượng của Thánh Mẫu Thụ trong sử thi, thơ ca, văn học, được hiểu nôm na
gần giống hoặc là đồng hóa với Đức Địa Hoàn Thánh Mẫu. Người ta còn cho rằng sự
tồn tại của cây thần chính là sự tồn tại của Mẹ Thiên Nhiên, thế nên nếu cây
khô héo chết đi thì các cõi giới liên kết với cây cũng sẽ bị hủy diệt, chúng
sinh tận diệt hết thảy. Từ điểm này mà Thiên Địa Thụ còn có tên là Sinh Mệnh
Thụ.
- Thiên Địa Thụ với Nam Hoa Kinh của Trang
Tử
Trong văn hóa thần tích Đạo Gia, Thiên Địa
Thụ được Trang Tử nhắc đến trong Nam Hoa Kinh với tên gọi Đại Xuân, cây có 8000
năm mùa xuân, 8000 năm mùa thu với hai vòng luân chuyển mùa hoa lá tươi xanh và
mùa rụng lá.
Từ ý tưởng này, có bộ phim hoạt hình Trung
Quốc có nhắc đến Đại Xuân là Đại Ngư Hải Đường với tình tiết Đại Xuân là một vị
nữ thần quan trọng nơi Thần Giới, vì đền đáp ân cứu mạng cho một người trần đã
từng có duyên vì cứu mình trước đó mà bị nạn tử vong, chuyển sinh thành côn
bằng. Vì việc thay đổi vòng xoay tự nhiên này khiến cho Thần Giới gặp tai họa,
hỗn loạn và có nguy cơ bị tiêu hủy. Cuối cùng Đại Xuân đã hi sinh thân mình
đánh đổi sự bình yên cho Thần Giới cũng như tạo thông đạo cho côn bằng rời khỏi
Thần Giới, về lại nhân gian.
Trong bộ phim này, có chi tiết Đức Hậu Thổ
(tức Địa Hoàn Thánh Mẫu), lúc bấy giờ là ông của Nữ Thần Đại Xuân, đã hi sinh
thân mình hóa thành cây Hải Đường mọc lên từ lòng địa dương để ngăn chặn nước
lũ. Nữ Thần Địa Xuân cũng hi sinh thân mình, hòa nhập linh hồn mình vào cây Địa
Xuân ấy. Như vậy, người ta đã ngầm liên tưởng sự đồng hóa Đại Xuân - Thánh Mẫu
Thụ - Hậu Thổ - Địa Hoàn Thánh Mẫu là một.
Tranh minh họa theo trang
-----------------
Dọn dẹp nhà cửa đã xong, giờ cũng là lúc
dọn dẹp lòng mình cho đồng tinh sạch.
Ngày cuối tháng Chạp, cũng là ngày cuối năm
Nguyệt Lịch, thực là lúc thích hợp để sửa soạn lại tâm hồn mình.
Sau khi đọc Kinh Nhật Tụng, có các bản kinh
rất thích hợp gồm:
Giới Tâm Kinh,
Kinh Sám Hối,
Thái Thượng Cảm Ứng Thiên
và cuối cùng là Di Lạc Chân Kinh,
để mở ra một trang mới tươi sáng và hứng
khởi sắp tới.
Mời cả nhà cùng vào thời Kinh của mình nha.
Chúc mọi người một năm mới tinh tấn và an
lạc.
Om kyu ten svaha.
——————
Link:
Giới Tâm Kinh
https://www.facebook.com/…/a.14483883551…/1448388371865052/…
Kinh Sám Hối
https://www.facebook.com/…/a.14483883551…/1448388381865051/…
Thái Thượng Cảm Ứng Thiên
https://www.facebook.com/…/a.14480457885…/2484173814953164/…
Di Lạc Chân Kinh
https://www.facebook.com/…/a.14483883551…/1448388368531719/…
-----------------
“Kiến nhân chi đắc như kỷ chi đắc,
Kiến nhân chi thất như kỷ chi thất”
Tạm dịch:
“Nhìn người được cũng thấy vui như mình
được,
Nhìn người mất mát cũng thấy đau như mình
gặp mất mát”
-trích chương Các Việc Thiện, Kinh Cảm Ứng
Thiên
.........
Hãy biết cảm thương rộng lượng thật nhiều
nha.
: )
-----------------
bào hao nước lửa mênh mông
đốt thiêu hương quả tổ tông ông bà
tiên nhơn xuống bến qua phà
tổ đường ở lại ta bà chịu ơn
cửu huyền mờ mịt u hồn
để cho con cháu dịch ôn làm càn
thất tổ ngó thấy thở than
vì đâu tôn tử sổ sàng thế kia
bá gia lệ đổ đầm đìa
linh căn lạc lối hết dìa bồng lai
hai không gộp lại bằng nay
khoá còng linh bổn kẻ say mộng trần
tu ngu rộ rộ rần rần
tu khôn còn vướng nợ nần chưa yên
tu ngu nên mới đảo huyền
tu khôn rước sự ưu phiền vào thân
tu ngu vong cựu nghinh tân
tu khôn thủ cựu chừa phần cháu con
tu ngu nên chọn món ngon
tu ngu rau cháo mà còn hồn linh
tu ngu cái xác thúi ình
tu khôn dẫu chết đẹp xinh cái hồn
tu ngu dựng quán cất đồn
tu khôn giữa chợ lòn trôn đi về
tu ngu hồn xác u mê
tu khôn linh bổn đài huê thơm lừng
tu ngu tu được nửa chừng
lăn vào bờ bụi đau lưng ê càng
tu khôn xa chốn nhộn nhàng
lấy công lập hạnh lên đàng về tây
-----------------
Quay đầu là bờ
Tình thương bao la vô cùng vô tận của Đức
Từ Phụ, Đức Từ Mẫu, Đức Từ Tôn với muôn sinh con cái của Người. Chúng ta, dẫu
trong kiếp sống hiện thế, hay từng trải qua bao đời bao kiếp lầm lỗi, tạo
nghiệp dữ với chính mình, nếu có thể trong giờ phút lâm chung trước khi hồn lìa
khỏi xác, tự mình có thể nhận thức một cách tỉnh táo rằng: “Mọi nhân duyên
nghiệp dữ cũng đều là phù vân hư huyễn, có đó rồi mất đó, mọi thứ cũng về với
không không tịch tĩnh.”
Một niệm thành tâm sám hối, một lần thực sự
muốn quay đầu trở về nhà, tự nhiên nhìn thấy bến bờ an lạc vậy.
Tụ tha thứ cho muôn sinh đã có oan gia
nghiệp báo với mình.
Tự tha thứ cho chính mình có oan gia nghiệp
báo với chúng sinh.
Dẫu sao, muôn loại sinh linh, cũng là anh
em với nhau trong tình thương yêu vô cùng tận của Đức Từ Bi.
Tha thứ
Yêu thương
Là chìa khóa mở cổng Cửu Trùng Thiên và Cực
Lạc Quốc vậy.
Bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất
thanh, bất nhiễm, bất thiện, bất ác, bất tăng, bất giảm… cũng đều là những cung
bậc trạng thái của lý sự xoay vòng trong chu kỳ của sinh thành trụ hoại diệt.
….………………………………
Kinh cầu hồn khi hấp hối
Rắp nhập cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống
Chốn quê xưa giải mộng trần gian
Dìu đường thoát tục nắm phan
Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải căn.
Diêu Trì Cung sai nàng Tiên Nữ
Phép Lục Nương gìn giữ chơn hồn
Tây phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn
Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi Âm.
Ớ “Nguyễn Văn A” thành tâm cầu nguyện
Nguyện Chí Tôn linh hiển độ sanh
Ăn năn sám hối tội tình
Xét câu minh thệ gởi mình cõi thăng.
Dầu nghiệt chướng số căn quả báo
Đừng hãi kinh cầu đảo Chí Tôn
Cửa địa ngục, khá lánh chơn
Ngọc Hư Cực Lạc đon đường ruổi dong.
Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo
Dầu oan gia tội báo buộc ràng
Chí Tôn xá tội giải oan
Thánh, Thần, Tiên, Phật, cứu nàn độ vong.
Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc Đẩu
Kìa im đìm phúc hậu Nam Tào
Cảnh thăng trổi gót cho mau
Xa vòng tục lự đặng chầu Chí Linh.
Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha
Tát (niệm 12 lần)
* Nguyễn Văn A: Thay họ tên của người nào
sắp tắt hơi, đọc thường xuyên, liên tục bản này chậm rãi nhẹ nhàng để họ định
tỉnh tâm thần của mình khi cận tử nghiệp bủa vây.
Tranh: Huỳnh Hoa Tiên Tử - Vị Tiên Tử chăm
sóc các đóa hoa sinh mệnh của muôn sinh nơi Ngạn Uyển ở cõi Tạo Hóa Huyền
Thiên.
Tác giả: Diệu Hương
-----------------
Hỉ Lạc Thiên
* Nguồn gốc
- Các vị Thần, Thánh, Tiên, Phật độ duyên
chúng sinh bằng các Pháp khiến người cảm thấy an lạc, yêu đời, tươi vui năng
động được gọi chung là chư vị Hỉ Lạc Thiên.
- Những người, vật có tâm tư, nguyện vọng
đem niềm vui đến mọi người, độ duyên cho chúng sinh bằng cách an ủi, chia sẻ
những nỗi đau của họ bằng phương thức sử dụng âm nhạc, văn nghệ thuật, nụ
cười... gọi chung là pháp âm. Người, vật sống như thế, một đời an lạc, tươi vui
thì khi từ bỏ thân mạng, anh linh ấy thường trở thành Hỉ Lạc Thiên tiếp tục
dùng an lạc khí, pháp âm, của mình độ duyên cho chúng sinh giải bớt phiền não,
khổ đau giữa đời thường.
- Chư Thiên Ca, Thiên Vũ Khẩn Na La và chư
Thiên Nhạc, Thiên Nghệ Càn Thát Bà là hai đại tộc có thành phần tộc nhân hầu
hết đều là Hỉ Lạc Thiên.
* Hình dạng thị hiện và tính chất đặc trưng
- Chư vị Hỉ Lạc Thiên thường an trú nơi các
tầng Thiên trong khắp Cửu Trùng Thiên, lại thường vân du khắp nơi trong Tam
Giới, nơi nào có người thích nghe, diễn tấu văn nghệ thuật thì họ sẽ đến đó độ
duyên.
- Các vị Hỉ Lạc Thiên thường thị hiện hình
dáng Thanh Nam Tú Nữ trẻ trung, dễ gần dễ mến. Trên gương mặt chư vị ấy đều
luôn tỏa ánh hào quang rạng ngời của an lạc, tự tại. Khắp xung quanh chư vị là
hương thơm ngào ngạt của hoa cỏ. Nơi nào chư vị ấy xuất hiện đều tự nhiên trở
nên thanh khiết, lại có tiếng nhạc du dương thánh thót, đầy ắp niềm an vui tự
tại.
- Các vị Hỉ Lạc Thiên thường sử dụng pháp
âm độ duyên cho chúng sinh như xướng ngâm thi thần, cổ chú, kinh điển, xướng
ca, hòa tấu các giai điệu du dương. Do vậy, chư vị ấy thường mang bên mình các
nhạc khí như kèn, trống, sáo, đàn, pháp loa...
- Chư vị Hỉ Lạc Thiên thường xuất hiện
thành từng nhóm từ ba vị trở lên. Do tính chất là hòa tấu, ca hát, xướng ngâm
nên các vị xuất hiện chung với nhau. Mỗi vị sử dụng một loại pháp âm để bổ trợ
nhau tạo nên giai điệu du dương.
- Chư vị Hỉ Lạc Thiên thường hay xuất hiện
báo hiệu có các vị cao trọng sắp đến. Lúc bấy giờ, có vị tấu đàn, có vị xướng
ngâm thi ca xưng tán tôn danh vị sắp xuất hiện, có vị lại rải hương kì hoa dị
thảo tẩy uế cho không khí nơi ấy được thanh khiết, trong lành đón tiếp vị sắp
đến thêm phần trang nghiêm long trọng. Lúc này, chư vị Hỉ Lạc Thiên được hiểu
như là các sứ giả báo tin mừng cho muôn loài khắp Tam Giới về việc có các vị
trọn lành, cao trọng xuất hiện độ duyên cho chúng sinh ở nơi nào đó.
- Các pháp hội có chư vị trọn lành thuyết
giảng, chư vị Hỉ Lạc Thiên cũng xuất hiện vừa để dự pháp hội cùng nghe thuyết
giảng, lại khiến cho không khí nơi ấy thanh tịnh trang nghiêm, những người, vật
có mặt ở đó thêm phần hoan hỉ, nghe pháp liền hồi hướng và thực hành một cách
chân thật, nhẫn nại.
- Pháp âm, vũ điệu do chư vị Hỉ Lạc Thiên
diễn xướng có khả năng chữa lành, xoa dịu nỗi đau các vết thương cả thể xác lẫn
tinh thần. Bên cạnh đó, tâm thức của người, vật khi được an lạc sẽ dễ dàng cảm
thụ về đời sống, sự tồn tại của vạn vật quanh mình. Từ những cảm tình rung động
như vậy, người và vật có hoạt động văn hóa nghệ thuật dễ dàng phát huy tinh
thần sáng tạo, cảm thụ nghệ thuật sâu sắc hơn.
- Người được chư Hỉ Lạc Thiên bảo hộ, độ
duyên sẽ có an lạc khí, khả năng cảm thụ văn nghệ thuật sâu sắc. Cho nên các
nghệ sĩ, những người yêu thích âm nhạc, muốn dùng âm nhạc để độ duyên cho chúng
sinh khi được các vị Hỉ Lạc Thiên bảo hộ, âm nhạc họ chơi sẽ biến thành pháp
âm, có sức hút mãnh liệt đối với người nghe, khiến người dễ cảm thụ, rung động,
chạm vào được những cảm xúc sâu kín trong lòng người nghe. Từ đó, âm nhạc ấy có
thể giải tỏa những phiền não của chúng sinh.
- Các vật dụng được tiếp cận gần với an lạc
khí, pháp âm của chư vị Hỉ Lạc Thiên thì tánh linh của các vật ấy cũn dần thức
tỉnh nhanh hơn so với các vật bình thường hấp thu linh khí trời đất. Khi tánh
linh thức tỉnh, các tính chất diệu dụng, tư niệm, ý nguyện của những người
thường xuyên tiếp xúc các vật ấy, đã đặt ý nguyện nơi các vật ấy cũng được trở
nên nhạy bén hơn.
Ví dụ cụ thể:
Các pháp khí như chuông, mõ, đèn, trống,
đàn... nơi thờ cúng tâm linh, thường xuyên có sự trì chú, hoặc sử dụng trong
quá trình hòa tấu nên các pháp âm thì sau một thời gian, âm thanh của các pháp
khí, nhạc khí ấy tự nhiên có hồn hơn lúc mới dùng, thần thái cũng đặc biệt trầm
lắng, thanh tịch hơn. Hễ ai nghe qua âm thanh từ các pháp khí, nhạc khí ấy thì
tự nhiên tinh thần cũng được an tịnh, phiền não tiêu tan, thân tâm hoan hỷ lạ
thường.
- Trong một số hoàn cảnh nhất định, Hỉ Lạc
Thiên vì bảo vệ kẻ yếu thế cô, hộ trì chánh pháp có khi sẽ thị hiện hình tướng
Atula Chiến Thần dạng, hoặc là La Sát dạng. Chư vị ấy vẫn dùng pháp âm chiến
đấu chống lại các thế lực cường quyền, tà ác muốn hủy hoại chánh pháp, ức hiếp
kẻ thế cô, ấu nhược.
* Phương thức cảm ứng
- Người có tâm tình yêu thích âm nhạc, văn
hóa, nghệ thuật, muốn dùng các phương thức nghệ thuật làm phương tiện để độ
duyên cho chúng sinh, đem niềm an vui, hạnh phúc đến cho mọi người, vị tha
chẳng vị kỷ, lúc bấy giờ người ấy có thể được chư vị Hỉ Lạc Thiên bảo hộ.
Nguồn : Tam Giới Toàn Thư
Ảnh sưu tầm
-----------------
mấy dặm phù sanh (5)
lòng thức giác chánh minh cần mẫn
cội bồ đề duyên phận Thích Ca
Mâu Ni chánh giáo phật đà
ngôi cao tối thượng gọi là minh sư
mà có kẻ tội dư phước mỏng
thân nữ lưu nhưng mộng trèo cao
chẳng biết tu ở chốn nào
đạp lên nhân quả xé rào tây phương
ở ta bà náo nương thân xác
qua bên tàu khai thác pháp môn
tưởng đâu y giáo thế tôn
ai dè lại muốn thành hồn như lai
pháp luận biện cũng tài cũng giỏi
thâu quần hùng bày mối chỉ manh
danh thì tạm gọi biển Xanh
tưởng đâu chánh pháp đã rành lâu năm
nhưng ngặt nỗi mưa dầm cõi hạ
nước ngập tràn cây lá xác xơ
nhìn vào tưởng thấu huyền cơ
ai dè cũng chỉ chờ giờ đem chôn
hỏi thế gian rằng khôn hay dại
hỏi cuộc đời thất bại do ai
đời này chỉ một như lai
cớ sao có kẻ xưng tài thượng sư?
sóng xô dạt thuyền từ cập mé
dụng cơ huyền là kẻ trượng phu
biển trần cũng lắm người tu
người chầu phật tổ, kẻ du diêm đài
sông có cạn không phai hạnh nguyện
núi có mòn cũng quyết tiến tu
ngày mai trái đất mịt mù
hôm nay cũng quyết công phu cho tròn
nhìn nhơn chủng héo don đời sống
làm việc tồi chấn động bửu liên
hại nhau gây hoạ liên miên
làm cho thế cuộc ngửa nghiêng hung tàn
dấy can qua lầm than chốn chốn
động binh hùng khốn đốn nơi nơi
làm cho thê thảm khách đời
cang thường biến dạng lòng trời khó dung
đêm canh trường ngồi cùng chư phật
ngày sáu thời đánh vật quần ma
đêm ngày chẳng mống điều tà
tâm mê dứt sạch phật đà gọi tên
nếu chúng sanh lập xong bổn hạnh
phật ban duyên đất thánh lạc bang
nghỉ an trong cảnh niết bàn
thiền môn đáo ngự thân vàng đề danh
nếu như có chúng sanh nguyện thệ
rốt lòng tu kinh kệ thấm nhuần
trì danh lục tự tôn xưng
lâm chung chẳng lạc vào rừng u minh
sẽ có phật hiện hình tiếp dẫn
chúng tây phương sách tấn linh hồn
vẳng nghe tiếng gọi ôn tồn
vội vàng bái yết thế tôn mình vàng
phật dẫn đường khai quang lề lối
đưa mình từ đêm tối quần ma
bước vào đại lộ Thích Ca
ngàn năm chỉ có vậy mà hôm nay
phật đã chẳng để sai lời hẹn
chúng sanh đừng để thẹn sau này
muốn tu có phật có thầy
đưa qua phật cảnh sum vầy một nơi
thuyền giác ngộ vừa rời bến khách
khua mái dầm bờ lạch uốn quanh
đôi bên con nước tròng trành
chèo qua bến khổ tới thành lạc bang
con đã nguyện tìm đàng giải khổ
quyết một lòng tịnh độ hồi lai
phật từ tận độ gái trai
mà trong sanh chúng có ai hãn tường
danh không chánh thì thường không hạnh
ngôn không thuần thì tánh chong chênh
ngôn,danh phải chánh mới bền
chánh ngôn chánh hạnh là lên liên toà
phật chỉ dạy học trò trụ xứ
thầy cũng khuyên ráng giữ thiện lương
dù cho không đắc tây phương
cõi tiên cũng được thường thường về thăm
kẻ tu niệm dư trăm dư vạn
nhưng có ai tường hãn lý sâu
có ai hiểu được nhiệm màu
tâm thì phóng đãng đòi mau đắc thành
tu chẳng phải ít ngày vài bữa
tu cả đời mà sửa chưa xong
đi tu thì rủ cho đông
bu vào cãi lộn khó mong tu thành
tu chẳng muốn giựt giành chi cả
ai muốn hơn thì khá cho hơn
ai tài mình chịu lùi chơn
ai hay, mình dở ,ai hơn, mình nhường
tu như vậy kẻ thương người mến
tu là lo tánh mệnh song hành
giữ sao cho khéo mới xong
tánh thì minh sáng , mệnh hồng cánh sen
thấy ai khổ ráng chen vào giúp
thấy ai nghèo lúp xúp đỡ nâng
sẻ chia tài lộc ngọc ngân
thì đò bát nhã dành phần cho ta
phật nhìn đời phật sa hột luỵ
tiên ngó trần vận bĩ châu rơi
đâu ai tri được lòng trời
có ai rõ được ý lời thế tôn?
nếu thông đạt di ngôn của phật
thức giác lòng được mất hư không
vô dư chính quả đại đồng
niết bàn là chốn sạch trong thanh nhàn
vô dư y niết bàn cứu cánh
là nơi miền đất hạnh bồ đề
đại bát thù thắng mọi bề
chính là chân lý quy về đấy thôi
tự tánh vốn là ngôi cổ tự
mà vắng người gìn giữ chăm nom
hoang liêu cô tịch chiều hôm
không người thu dọ quét gom lá vàng
không chùi lau khai quang khuya sớm
chẳng đèn hương chẳng đượm hương thiền
trong ngoài dọn dẹp luân phiên
sạch trong chẳng bợn bén duyên cồ đàm
chủ nhơn ông ngủ tham chưa thức
thì khó mà tiếp sức cho ta
ngủ hoài mê mẩn tâm ma
chìm trong mộng ảo khó ra bên ngoài
viễn cảnh mộng đừng say đừng mến
khi ngồi thiền phật đến viếng thăm
gạt liền đừng để vào tâm
thấy phật diệt phật khỏi lầm quỷ ma
khi thiền định tâm trổi dậy
nó hiện hình phá quấy tâm ta
dụ mình vào cảnh của ma
trói hồn những đứa phóng ra niệm lầm
trời bát nhã huyền thâm vi diệu
rõ tâm cơ hiệu triệu phép linh
thâu thần an trú trong mình
diệt đi chấp ngã thường tình bấy lâu
phật đã đạt minh châu tụ đảnh
khai trí thần pháp tánh mở ra
phóng quang khắp cõi ta bà
xem trong mê lộ người ta thế nào
thấy chúng sanh đớn đau vì ái
nhìn muôn người đắm cái lợi danh
sắc tài là giống chẳng lành
con người ta khổ ngọn ngành là đây
bao kiếp nạn bủa vây thân xác
con người ta tan nát cửa nhà
dựng gầy được cái ngôi gia
bạc bài đĩ điếm nên ra ngoài đường
cái thống khổ là đường chấp ngã
cái mê lầm là dạ u minh
cố tâm tìm cái hiển linh
phật tìm chưa thấy, thấy mình lao đao
ma nó hiện phép màu vi diệu
khiến những người kém yếu tâm cơ
tưởng phật, nên mới nương nhờ
ai dè ma quỷ nó chờ lôi đi
quốc độ nào, thì đi cảnh đó
thiếu căn duyên sẽ khó tu trì
ma chướng khởi lộng một khi
sức không đủ chống thì đi gục đầu
muôn ngày năm nếm sầu thiên cổ
vạn ngày qua bóng thố lướt nhanh
vừng ô soi bóng đầu xanh
đến ngày tóc bạc đã thành thây ma
con cũng đã sống qua nhiều kiếp
con hiểu rồi cái nhịp tử sanh
nghiệp từ miệng ấy mà thành
bệnh sanh do khẩu chẳng lành miếng ăn
phật thánh tiên đắc căn pháp bửu
cũng là do làm chủ lục ma
lục trần theo đó tan ra
lục thông gom lại hoá ra thân vàng
tren con đường khai quang quần thể
phật vì lòng tuyên thệ độ sanh
tăng đoàn y giáo y danh
y theo chánh lý mà thành công phu
cõi trời tây chim ru pháp bảo
chốn tây phương muôn thú niệm kinh
mà sao ở chốn hữu hình
sáu căn có đủ chẳng gìn thiện lương?
mãi ganh đua chiến chinh giao đấu
chốn thương trường mã tấu giáo gươm
giết người đâu được danh thơm
làm nhiều chuyện ác chỉa chôm của người
của ăn giựt móc bươi , là cướp
của gạt lường như chớp tan mau
của người chớ khá động vào
của mình rốt cuộc cũng chào ra đi
người không hiểu có khi làm quấy
khi thông rồi mới thấy hãi kinh
nhân gieo từ thuở bình minh
hoàng hôn nghiệp đến thì mình trả thôi
phật không thể ngồi trên nhân quả
hoặc giúp ta thôi trả nghiệp trần
ai vay người đó trả dần
chẳng ai gánh được nợ nần cho ai
nghiệp thì vốn tự tay mình tạo
thì phải lo mài cạo cho xong
thanh lý gọn gẽ ngoài trong
mới là nhẹ bước qua dòng khổ đau
đây là buổi thiên tào bôi sổ
khắp vũ hoàn chuyển độ sanh linh
lạc bang chỉ một lộ trình
tây phương phật quốc đượm tình vị tha
treo bảng vàng mở khoa thi cử
khuyến mọi người gìn giữ tâm linh
trên đường du hoá trần sinh
đừng cho đắm nhiễm vào mình thì an
cuộc sàng lọc còn đang tuyển lựa
hội quần tiên sắp sửa mở ra
ai con ai cháu phật đà
tử tôn trời đất bước ra ứng hầu
chung tay lại xây lầu bạch ngọc
dựng đài hoa sàng lọc căn duyên
bất luận tu phật tu tiên
mục đích cũng chỉ thoát miền khổ đau
đừng bước rẽ mà đau lòng tổ
đừng phân chia mà hổ danh thầy
chúng sanh ở tại nơi đây
đồng chung giác tánh thì mày như tao
không ai rõ ngày sau thế giới
khắp năm châu còn lợi bao nhiêu
trong cơn đồ thán buổi chiều
nơi nơi binh lửa bao điều tang thương
mặt trời cũng như dường muốn lặn
nhìn thế gian mà nặng lòng lo
những ai mà trễ chuyến đò
liu xiu dưới bến thập thò mé sông
sẽ thấy cảnh cuồng phong phẫn nộ
nước tràn bờ đại lộ tịch liêu
nơi nơi ngập úng cũng nhiều
thương con mười chín bao nhiêu cho vừa
tu một bữa không chừa nhân quả
ác một ngày cũng trả cho xong
tu thì muốn rủ cho đông
rần như nhóm chợ mà không được gì
đạo cần có đủ bi trí dũng
vững tinh thần ứng dụng pháp môn
u mê khi đã vùi chôn
thân trần sạch sẽ thì hồn sáng trong
sạch như thể hư không vô nhiễm
thanh tựa như mật niệm như lai
trong như ánh sáng liên đài
chói chang khắp cõi ai ai cũng mừng
con buổi trước đã từng chấp niệm
tự cho mình là điểm linh quang
để rồi tự thấy mình sang
xem người khác chỉ là hàng bợn nhơ
con lầm lạc đến ngơ hồn phách
tưởng đâu mình học sách tiên gia
xem thường luân lý vậy mà
lầm trong sự thế ta bà ố hoen
con nghĩ mình là đèn sáng chói
có thể soi và rọi đường đi
đèn kia gặp gió thì nguy
tắt luôn đâu thấy được gì trong đêm
con từng đã tạo thêm nhiều nghiệp
tâm bắt thêm nhiều nhịp oan gia
tưởng mình là mẹ là cha
là thầy là tổ bá gia vậy mà
con lao vào đường ma quái chướng
con làm cuồng ương bướng chẳng nghe
tưởng đâu sắm được xuồng ghe
vậy là đắc đạo ông nghè nghinh ngang
con phóng tâm lên ngôi thượng phẩm
xác là hồn cung cấm ngôi cao
thế trần dù có thế nào
vẫn không thể ví được vào với ta
lời con nói vậy mà linh hiển
con tưởng mình đã luyện thành tiên
ngờ đâu linh mới mấy niên
để rồi sau đó mất liền linh quang.....
con ở giữa thế gian cuồng lộng
mãi lay hoay kiếp sống phù sanh
bởi do con chấp tướng danh
tưởng mình là đấng trời xanh hạ phàm
cuộc danh lợi gánh đam quằng nặng
quên lời thầy căn dặn khi xưa
lợi danh như gió đong đưa
khiến con mê mẩn mến ưa giả trần
cho đến khi tinh thần mỏi mệt
con vùi mình mê mết thế gian
đời như thể đống tro tàn
trong cơn thách thử lộ đàng âm u
mãi danh lợi kiếm xu kiếm cắc
gom mấy đồng lượm nhặt nhọc thân
tội kia hốt lại đem cân
nặng hơn phước báu mấy lần oằn vai
nghiệp xảy đến nào ai có biết
bởi tâm còn chưa diệt niệm mê
cho nên thân xác ê chề
xanh xao vàng vọt nặng nề kiếp căn
con nằm vùi mấy trăng có lẽ
thân mỏi nhừ như kẻ đau lâu
khó mà kiếm giấc ngủ sâu
cũng vì phóng dật nát nhầu linh quang
cái hơi thở nặng mang trong ngực
cả thân mình đạo lực yếu dần
nghĩ rằng sẽ bỏ xác thân
vùi hồn vào chốn nợ nần âm gian
thần trí suy thân mang trọng trược
giống như thuyền nước ngược cố chèo
như lên đỉnh núi cheo leo
mòn hơi mỏi sức cố trèo lên cao
giữa cõi trần nương theo mộng ảo
thân gầy da dẻ khô khan
oan gia mộng mị ghé sang
hồn như ai trói ai ràng buộc thân
ai cũng muốn được sang cõi phật
ai cũng mong về đất tây phang
nửa đường lạc nẻo, lạc đàng
bốn bề vây kín nên càng xót xa
vào đêm ấy sương sa nặng hạt
nằm trong phòng dào dạt buồng tim
dường như trời cũng ứng đềm
con nghe tâm trí dậy thêm u buồn
trí vẩn vơ nghĩ suy từng đoạn
bấy lâu nay chưa dọn sạch lòng
vướng vào trong mớ bòng bong
sắc tài danh lợi tiền đồng bạc ngân
ngẫm kỹ ra xác thân hôi hám
khắp châu thân bụi bám đầy mình
khi vui hỉ hả ân tình
da xương khô héo cố nhìn chẳng ra
mang một đãi túi xa nhơ nhớp
có chi đâu trong lớp tanh hôi
mỗi ngày mỗi tắm chưa trôi lớp phàm
bỗng có màn khói lam phía trước
kéo dài hơi miệng hướt tay quào
một luồng ánh sáng chiếu vào
lại nghe mát mẻ biết sao tỏ tường
thân mang bệnh như dường sắp chết
trí âm u mê mệt suốt ngày
tự nhiên thấy nhẹ như bay
lướt qua mấy đám cỏ dài phất phơ
con lại nghĩ là mơ ấy nhỉ
cảnh này đây do ý sanh ra
hay là mình đã thoát ra
cái thân trung ấm phải là đây không?
con đang lục ở trong ý nghĩ
đây là đâu , cảnh trí lạ thường
ngó lên chỉ có vầng dương
nhìn quanh chẳng thấy phố phường là đâu
con đường mòn tựa sâu hun hút
hai hàng cây cao vút trời xanh
dưới chân bóng nắng vàng hanh
khí trời dịu mát trong lành lắm thay....
-----------------
Vô Nguyên Cổ Phật Bàn Canh Tổ Mẫu
9 tháng 11, 2016 ·
dụng trí thánh soi luồn hang tối
phá vô minh hiệp khối chơn quang
giữ câu thần tỉnh mộ khang
sớm thăm tối viếng con đàng từ bi
với tha nhân gắng ghi lòng thiện
người trong nhà thể hiện khoan dung
giác mê tỉnh thức khiêm cung
nhập hồn vào chốn huyền khung mà nhờ
hoa của trời đợi chờ người hái
quả tây phương cây trái xum xuê
sáu thời uống nước bồ đề
năm canh ngồi tựa liên huê chánh tòa
thì sợ gì chiêu trò ma mị
chẳng ngại lo chúng quỷ hoành hành
triều nguyên ngũ khí xây thành
tam thanh mở cửa để dành khách tiên
ngôn có chánh thì duyên mới tụ
ngữ thiện chơn an trụ cứu đời
mối giềng xin chớ buông lơi
chiều sâu trí giác tuyệt vời oai linh
nho thích đạo chánh minh chánh kiến
tam giáo tòa phát triển quần sanh
một gốc sanh trổ ba cành
vẫn chung một cội cây lành mà thôi
đồng nhất tổ đồng ngôi đồng giác
đồng chân nguyên chẳng khác chẳng sai
chân lý chẳng thể có hai
bến bờ giác ngộ một bài như nhau
vì phân biệt đạo cao đạo thấp
tâm nghi ngờ nhiễm tập u minh
con đường chánh giác thông linh
xưa nay chỉ một lộ trình mà thôi
đi với đạo được ngồi sen báu
thân đoan nghiêm khoát áo già lam
sớm kinh chiều kệ luận đàm
thời gian rảnh rỗi lo làm thiện duyên
đi với đời dạ riêng lòng lẻ
vì lợi danh bán rẻ lương tri
cũng do lợi ích một khi
mua danh ba vạn bán đi ba đồng
đi với ma nhuộm lòng nhơ bợn
rồi tự mình nuôi lớn vô minh
tự ta bán mất thân mình
giao hồn cho lũ âm binh mất rồi
đi với phật thì ngồi cạnh phật
chẳng cần lo được mất đa đoan
đỏ hồng trên trán điểm son
mở con mắt huệ mà lòn quần ma
chư bồ tát thường qua đông độ
biển phù trầm sóng vỗ liên miên
từ bi là một chiếc thuyền
rước đưa sanh chúng đáo miền lạc bang
cõi tiên gia hạ san phương tiện
dùng huyền cơ lựa tuyển khắp nơi
nhọc nhành chẳng dám buông lơi
ngày đêm thao thức vì đời rối ren
chín mươi sáu ức chen vào mộng
lạc nẻo đường cửa khổng vắng hoe
bờ tây thưa thớt thuyền bè
khách trần mê mải xôi chè ngọt thơm
khổ đến lúc khạc đờm ra máu
vẫn chưa thôi trân tráo với đời
đau thương cùng khắp mọi nơi
mà chưa chịu rõ ý lời người xưa
dựa vào pháp đại thừa chơn giác
dưới chân mình cỏ lác sây lau
san bằng cho gọn mau mau
phát quang tâm ý mà vào thiền lam
cảnh thảm khốc trời nam sấm chớp
mưa giăng giăng ngoi ngóp lội bơi
ôn hoàng dịch lệ của trời
còn đang tác nghiệp người đời chưa hay
cơ tiến hóa dẫy đầy thống khổ
buổi thanh trừng như nhổ mạ non
hỏi xem có cái gì còn
không lo thanh tẩy cho tròn đạo duyên
bến trúc lâm người tiên ngời sáng
cổng linh sơn chói rạng bình minh
lôi âm chuông giục vang thinh
trường ca đạo đức hành trình về tây
chư môn đệ tổ thầy giữ nếp
an phận mình cứu kiếp sanh linh
đề câu bác ái công bình
giúp đời độ đạo mà gìn phép công
thuyền ngươn hạ ngược dòng tử nạn
chuyến đò chiều mắc cạn sa lầy
bể mê ác nghiệp phơi thây
tán tro hài cốt bụi bay ngút trời
mạng đã mỏng vì đời khởi nhịp
máy công bình kinh khiếp thê lương
hôm nay còn thấy nhiễu nhương
ngày mai tọa chốn linh đường lạnh tanh
khôn thì gắng lo lường kẻo trễ
đứa dại ngu câu nệ cuộc cờ
diêm la chẳng có hẹn giờ
sanh không kỳ hẹn tử chờ được chăng?
muốn về chốn vĩnh hằng không khó
không chấp vào việc có việc không
chẳng đeo ái nhiễm vào lòng
chẳng nghĩ thiện ác chẳng trồng nghịch
duyên
còn chấp thiện còn phiền đeo đẳng
chấp ác duyên đen trắng rạch ròi
thiện ác hai nẻo chia đôi
tâm không phân biệt lôi thôi chánh tà
không dính mắc không ma không phật
nếu tâm vô nhất vật bên trong
có chi vướng bận mà hòng chùi lau
không chỗ trụ không cao không thấp
không sanh tâm nhiễm chấp tạp ô
không láng mà cũng chẳng thô
không cầu không đắc ra vô bình thường
bởi phân biệt hễ đường thì ngọt
muối mặn lè chanh nhót lại chua
một năm thì có bốn mùa
tự nhiên vốn sẵn khéo khua làm gì
sự vật vốn định kỳ vận chuyển
tâm đu theo hùng biện pháp trần
pháp tánh trí tuệ trong ngần
bị che bởi lớp bụi trần mờ lu
còn phân cách còn ngu còn dại
chưa đoạn lìa được cái huyễn hư
phướng lay tại gió trêu ư
bởi do tâm động nên sư nói càn
gió chẳng động,phướng càng không động
nhưng phướng kia mành mỏng đong đưa
dụng hành chơn pháp đại thừa
thì mình thấu hiểu cái chưa rõ ràng
thần tú dụng khánh đàn chuông mõ
bày giấy vàng xanh đỏ lễ nghi
lục tổ chẳng dụng hữu vi
phá tan cái chỗ mê si là thành
pháp đốn ngộ đi nhanh về tắc
kẻ tiệm cần thắc mắc quẩn quanh
kẹt trong một khúc tre xanh
tiệm thì leo thẳng, đốn giành đường ngang
pháp đốn ngộ thẳng đàng xông tới
thì xuyên qua cảnh giới u minh
vẹt màn mê ám trong mình
nhanh hay là chậm hành trình do ta
khi trí huệ phật đà bừng sáng
mọi nẻo đường đều rạng ánh dương
tâm linh nối mạch tây phương
đạt thông trí tuệ màn sương vén rèm
cơn thách thử đói thèm danh lợi
mang xác thân lao tới thì nguy
dòm quanh trong chốn thị phi
kẻ cười người khóc, thắng suy mệt lòng
người đức cả tấm lòng quảng lượng
đứa tiểu nhân chẳng nhượng bộ ai
quân tử gánh nợ hai vai
tiểu nhân tìm cách xiên quai công hầu
khanh tướng tợ như bầu rượu lạt
có thơm đâu khao khát đi tìm
xưa nay từ cổ chí kim
giàu sang có được sống thêm chăng là
nhìn làn khói bay qua song cửa
rồi tan mau cũng tựa hư vô
ngất ngây vị ngọt mơ hồ
thơm nơi đầu lưỡi mà khô linh đài
trăng đáy nước chen vai tìm kiếm
bóng thiều âm tắt lịm bên hiên
dàu dàu cỏ úa ngả nghiêng
hưng suy thành bại luống phiền khổ a
ngày hứng giọt ma ha nấu thuốc
đêm chong đèn học thuộc kinh luân
hừng đông linh khí tươi nhuần
hoàng hôn khép cửa không mừng không lo
tâm bình hòa, thơm tho nồng nặc
như trầm hương dìu dặt xung quanh
người lành thì có khí thanh
lương hiền cũng mọc được nhành quế chi
-----------------
CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP
☆ VIÊM HỌNG: Nam Mô Năng trừ Yết Hầu
Chư Bệnh Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô Trừ
Yết Hầu Thống Quán Thế Âm Bồ Tát.
☆ NHỨC ĐẦU: Nam Mô Trừ Đầu Diện Thống
Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô năng trừ Đầu não Hung Hiếp Chư Bệnh Quán Thế Âm Bồ
Tát.
☆ ĐAU LƯNG: Nam Mô Trừ Yêu Tích Thống
Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô Năng trừ Khẩu Phúc yêu bối Chư Bệnh Quán Thế Âm Bồ
Tát.
☆ NHỨC MỎI: Nam Mô Năng Trừ Thủ cước
Chư Bệnh Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô trừ Thủ Túc Thống Quán Thế Âm Bồ Tát.
☆ ĐAU CỘT SỐNG: Nam Mô Năng Trừ Hiếp
Dịch Thống Quán Thế Âm Bồ Tát.
☆ ĐAU KHỚP GỐI: Nam Mô Trừ Khoan
Thống Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô Trừ Thỏa Tất Thống Quán Thế Âm Bồ Tát
☆ BỆNH TRĨ: Nam Mô Trừ Trĩ Bệnh Quán
Thế Âm Bồ Tát.
☆ BỆNH TÂM THẦN: Nam Mô Bất Vị Cuồng
Loạn Thất Niệm Tử Quán Thế Âm Bồ tát.
☆ BỊ MA NHẬP: Nam Mô Năng Trừ Chư Ác
Quỷ Não Nhân Quán Thế Âm Bồ Tát.
☆ BỆNH NAN Y: Nam Mô Năng dữ Trường
Mạng Quán Thế Âm Bồ Tát.
○ VIỆC KHẨN CẤP: Nam Mô Thiên Nhãn Chiếu
Kiến Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô Thiên Thủ Hộ trì Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô
Năng trừ Mưu Hại Khủng Bố Quán Thế Âm Bồ Tát - Nam Mô năng Linh Ác Sự Tiêu diệt
Quán Thế Âm Bồ Tát.
☆ VIỆC KHÓ GIẢI QUYẾT: Nam Mô Tuệ
Nhật Phá Chư Ám Quán Thế Âm Bồ Tát.
☆ ĐẠI NẠN THẾ GIỚI: Nam Mô Tam Tai
kiếp Bất Năng hoại Quán thế Âm Bồ Tát □
(Cẩm Nang cầu nguyện Bồ Tát Quan Âm).
Nguồn: Cư Sĩ Độ Nhân
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT XIN THƯỜNG NIỆM
------------------------
Lễ Đức Mẹ Mân Côi.
---------------------------//----------------------
Giáo Hội dành trọn Tháng Mười để nhắc nhớ
con cái mình yêu mến và siêng năng lần chuỗi Mân Côi. Khi lần chuỗi Mân Côi,
chúng ta được mời gọi suy ngắm các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Kitô để noi theo,
nhờ đó ngày càng nên giống Chúa hơn, ngày càng nên thánh hơn.
Tràng chuỗi Mân Côi cũng là phương thế cầu
xin hữu hiệu để kéo ân sủng Chúa xuống cho nhân loại. Tại Fatima, Mẹ đã dạy ba
em nhỏ kêu gọi mọi người siêng năng lần hạt Mân Côi để cầu xin cho thế chiến
thứ nhất sớm kết thúc. Mẹ cũng dạy mọi người thêm vào cuối mỗi chục kinh Mân
Côi lời cầu nguyện xin cứu chúng ta khỏi hỏa ngục và cứu các linh hồn khỏi
luyện ngục: "Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội lỗi chúng con. Xin cứu chúng con
khỏi lửa hỏa ngục. Xin cho các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn
cần đến lòng Chúa thương xót hơn."
Tràng chuỗi Mân Côi là những lời kinh thật
đơn sơ và là những lời kinh của Kinh Thánh và của Giáo Hội, lời kinh mà Mẹ
Maria rất yêu thích; lời kinh mà ta có thể đọc lên cầu nguyện thật dễ dàng, lời
kinh có sức phá đổ quyền lực của ma quỷ và kéo ơn thánh Chúa xuống cho nhân
loại.
Chớ gì mỗi con cái của Mẽ yêu mến chuỗi Mân
Côi hơn, siêng năng lần chuỗi hơn và cầu nguyện sốt sắng hơn, nhờ đó, Tháng Mân
Côi này sẽ là tháng hồng ân cho Giáo Hội và cho thế giới. Amen!!
------------------------
LỜI KINH MÂN CÔI.
-----------//----------
Kinh Mân Côi cũng là mối dây tươi hồng liên kết chúng con với Mẹ Maria.
Chuỗi Mân Côi là dây ràng buộc con với Mẹ. Đúng thế! Tình thương thế gian giữa con và Mẹ có những
sợi dây thiêng liêng bí nhiệm chặt chẽ như người ta thường nói "
lon son như con với mẹ " thì về phần linh hồn cũng vậy, Đức Maria
là Mẹ Chúa Giêsu nên cũng là mẹ loài người. Vì thế chắc chắn giữa Mẹ và chúng
con có những mối dây tình mẫu tử thật thiết tha đậm đà. Nhưng có một mối dây
liên kết chúng con với Mẹ. Đó là chuỗi Mân Côi. Chuỗi Mân Côi liên kết chúng
con chặt chẽ với Mẹ, để Mẹ dẫn dắt chúng con đi sâu vào màu nhiệm Ngôi Lời nhập
thể cứu thế. Chuỗi Mân Côi cũng làm cho chúng con hợp tâm tình, với xu hướng
thiêng liêng của Mẹ Maria và sau hết nhờ trái tim Mẹ, kinh Mân Côi đặt chúng
con vào mối liên kết sống động với Chúa Giêsu.!
Tạ
ơn Mẹ. Amen!
------------------------
Kính mừng MARIA đầy ơn phúc
Thiên CHÚA ở cùng MẸ liên
Đẹp tươi diễm lệ khôn sánh
Ngàn đời dâng lời hoan ca
MARIA
Chúc tụng THÁNH DANH MẸ đến muôn đời
Amen
------------------------
THÁNG 10 .. KÍNH ĐỨC MẸ MÂN CÔI .
CHUỖI MÂN CÔI . là một chuỗi cầu nguyện
theo tin mừng ..là một chuỗi tình yêu . gồm những lời yêu thương chân thành và
đơn sơ nhất ...hãy nhìn ngắm . Tôn thờ . Chiêm ngưỡng . suy niệm những Mầu
nhiệm của CHÚA GIÊ SU ..và thì thầm những lời ca ngợi . những câu nài xin với
ĐẤNG .đã ban cho chúng ta ĐẤNG CỨU THẾ ...
Các tín hữu nên cầu nguyện bằng kinh MÂN
CÔI ..và hiểu rõ bản chất cũng như tầm quan trọng của kinh này.
Những ai LẦN CHUỖI MÂN CÔI .trong nhà thờ .
trong nhà nguyện . Hoặc trong gia đình ..Trong cộng đoàn tu trì .Trong hiệp hội
đạo đức . hoặc khi nhiều người họp nhau nhằm mục đích tốt. ... Thì được hưởng
một ơn Đại xá .. Còn đọc trong những hoàn cảnh khác thì được hưởng một ơn Tiểu
xá ..( Ench . Indulg ,, ấn bản 1999 . concessio 17..)
Trích từ ..Những ngày lễ Công giáo 2019 --
2020 .)
------------------------
CẦU NGUYỆN LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
+ Lúc 15h nếu bận việc thì đọc lời nguyện
này:
= Lạy Chúa Giêsu, Chúa vừa trút hơi thở
cuối cùng, nhưng nguồn sống đã tuôn trào đến các linh hồn, và cả một đại dương
Lòng Chúa Thương Xót được mở ra cho toàn thế giới. Ôi, Nguồn Mạch Sự Sống là Lòng
Thương Xót khôn dò, xin hãy bao trùm toàn thế giới và trút hết toàn thân Ngài
trên Chúng con.
= Ôi, Máu và Nước tuôn ra từ Trái Tim Chúa
Giêsu để nên nguồn mạch Lòng Thương Xót cho chúng con, con tin cậy vào Chúa.
+ Nếu có thời gian thì lần chuỗi Lòng Thương
Xót Chúa bất cứ giờ nào cũng được.
------------------------
MẦU NHIỆM KINH MÂN CÔI
Mân Côi , Kinh đến bởi Trời
Qua lời Thiên Sứ từ Trời “ Truyền Tin “
Thiếu nữ xinh xắn tinh tuyền
Maria , Sao Sáng trinh nguyên chính Bà
Danh thánh Mẹ thật chói lòa !
Maria , Tên gọi ấy thật là trinh trong
Xác thân, Thần trí thong dong
Vì Mẹ đã được sủng ân đong đầy
Đáp lời thiên sứ : Thưa ngay
” Nầy đây, tôi tá vâng ngay … lệnh truyền ”
Tức khắc Mẹ nhận ngay liền
Thánh Thai Thiên Chúa làm Người GIÊSU
Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời
Đầy tràn phúc lạ hơn người thế nhân
Lời ca chúc tụng Thánh Ân
Kính Mừng vang mãi tay lần Mân Côi
Thầm thì cùng Mẹ Chúa Trời
Ngợi ca, ca ngợi muôn lời suy tôn
Mầu nhiệm rót xuống muôn hồn
Siêng năng lần hạt suy tôn Chúa Trời
Qua lời Đức Mẹ chuyển cầu
Muôn ơn hồng phúc sinh sôi tức thì
Thế nhân xin chớ hồ nghi !
Qua lời Đức Mẹ tức thì ứng ngay
Khi nay hiện tại phút giây
Và trong nguy tử Mẹ rày chẳng quên
Thế nhân tội lỗi kêu xin
Mẹ luôn trung tín qua Kinh Kính Mừng
Ave Maria
------------------------
CÁC LỜI CA TRONG THÁNH LỄ.
Tuần XXVII. NĂM A.
Mùa thường niên.
Thứ Ba.06/10/2020.
Bài đọc.
Gl. 1,13-24.
Đáp ca.
TV : 138,1-3.
13-14ab.14c15.(Đ.c.24b)
*
Xin dẫn con theo chính lộ ngàn đời.
Tung hô Tin Mừng.
Lc:11,28.
*
Ha-le-lui-a. Ha-le-lui-a.
Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời
Thiên Chúa. Ha-le-lui-a.
TIN MỪNG.
Lc: 10,38-42.
38.* Khi ấy, Đức Giêsu vào một làng kia . Có một người phụ nữ tên là
Mác-ta đón người vào nhà. 39. Cô có
người em gái tên là Ma-ri-a . Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người
dạy . 40. Còn cô Mác-ta thì tất bật lo
việc phục vụ. Cô tiến lại và nói :
" Thưa Thầy , em con để mình còn
phục vụ , mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay
!" 41. Chúa Giêsu đáp : "
Mác-ta ! Mác-ta ơi ! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá !
42. Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi .
Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất , và sẽ không bị lấy đi."
Đó là Lời Chúa !
*
Lạy Chúa Kitô ngợi khen Chúa.
NGUỒN GỐC THÁNG MÂN CÔI KÍNH ĐỨC MẸ
Kinh Mân Côi là hương hỏa tuyệt diệu thánh
Ðaminh trối lại cho Dòng Thuyết Giáo. Các con cái cha Thánh đã luôn luôn làm
cho di sản thánh thiện đó ngày một tăng trưởng.
1- Ðể cổ động việc tôn sùng Mẹ Maria, một
Linh mục dòng này đã biên soạn một tập sách nhỏ trình bày 15 Mầu nhiệm chuỗi
Mân Côi giúp độc giả suy niệm trong lúc lần hạt, đã đem lại nhiều thành tích
tốt đẹp.
2- Giáo quyền nước Tây Ban Nha hưởng ứng và
phổ biến nhanh chóng khắp nước việc đạo đức đầy sáng tạo và linh ứng đó của vị
tu sĩ nhà.
3. Đức Piô 5, năm 1571, lập lễ Đức Mẹ Mân
côi và ấn định mừng vào ngày 7 tháng 10 hằng năm.
4- Ðức Piô thứ 9 (1846-1878) tăng cường sự
ủng hộ bằng nhiều ân xá ban cho những giáo dân tích cực tham gia việc tôn sùng
Mẹ Maria bằng kinh Mân Côi trong tháng Mười.
5- Ðức Leô 13 (1878-1903) phổ cập việc đạo
đức này khắp thế giới:
a/ Bằng nhiều Thông Ðiệp, Sắc lệnh, nhất là
thông điệp Supremi Apostolatus, đề cao việc tôn sùng Kinh Mân Côi, ca ngợi, cảm
mến và cầu xin với Mẹ Chúa Trời trong Tháng Mười.
b/ Ngài ban nhiều ân xá và đại xá đặc biệt
cho những ai sùng kính Kinh Mân Côi.
Từ đó, tháng 10 đã trở thành tháng Mân côi
kính Đức Mẹ.
6- Chính Ðức Trinh Nữ Maria ngày 13 tháng
10 năm 1917 tại Fatima đã xưng mình là "Đức Mẹ Mân côi", hiểu được là
Mẹ muốn con cái tôn kính Mẹ trong tháng Mười, tháng Mân Côi của Giáo hội.
GỐC TÍCH KINH MÂN CÔI:
Thánh Ðaminh (Đôminicô 1170-1221) được mời
đi giảng cho bè lạc đạo Albigensê, nước Pháp, bè này ở vào thời Trung cổ, li
khai với Hội thánh, chủ trương vũ trụ có thần thiện thần ác điều khiển, còn
Chúa Kitô thì hão huyền không thật. Qua nhiều cố gắng, ngài không lôi kéo được
ai trở về cùng Hội thánh.
Ngài chạy đến cùng Ðức Trinh Nữ Maria, van
nài Mẹ nhận lời mới thôi.
Từ thành Toulouse, Ngài vào tận rừng sâu, ở
đó ba ngày đêm ăn chay cầu nguyện không ngừng.
Khi thánh nhân xuất thần, Mẹ Thiên Chúa
hiện ra huy hoàng tuyệt mỹ, có ba nữ hoàng theo hầu. Mỗi nữ hoàng lại có 50
trinh nữ theo hầu.
Nữ hoàng thứ nhất, cũng như đoàn tùy tùng
mặc y phục trắng. Nữ hoàng thứ hai y phục đỏ. Nữ hoàng thứ ba mặc áo bằng vàng
sáng chói hơn hết.
Ðức Trinh Nữ phán:
- "Ba nữ hoàng tiêu biểu cho ba Tràng
hạt; năm mươi trinh nữ tùy tùng mỗi nữ hoàng là 50 kinh Kính Mừng của mỗi Tràng
Hạt; màu trắng nhắc lại các Mầu nhiệm Vui; màu đỏ, các Màu Nhiệm Thương; và màu
vàng, các Mầu Nhiệm Mừng".
Các mầu nhiệm Nhập Thể, Giáng Sinh, Ðời
Sống và Khổ Nạn của Con Mẹ, cũng như các mầu nhiệm Sống Lại và Lên Trời đều
chứa đựng trong kinh Kính Mừng và kinh Lạy Cha.
"Ðó chính là Tràng Chuỗi Mân Côi,
nghĩa là Triều Thiên trong đó Mẹ tìm thấy trọn niềm hoan lạc. Con hãy truyền bá
khắp nơi kinh ấy, và các người lạc giáo sẽ trở lại, các tín hữu sẽ vững tin và
sẽ được phần rỗi muôn đời".
Ðược phấn khởi, thánh Ðaminh vội về
Toulouse, đi ngay vào nhà thờ. Theo như lời truyền khẩu khi đó chuông tự dộng
vang lên inh ỏi. Nhân dân bỡ ngỡ nghe chuông đánh vào giờ khác thường, ồ ạt kéo
nhau đến nhà thờ.
Thánh Ðaminh lên toà giảng nói đến phép
công thẳng của Thiên Chúa ngày phán xét. Ðể tránh sự chí công đó, chỉ có phuơng
thế chắc chắn là cầu khẩn với Mẹ Maria nhân từ.
Thánh nhân giải thích Kinh Mân Côi và đọc
to. Mọi người hưởng ứng lần hạt Mân Côi.
Hiệu quả của kinh Mân côi thật lạ lùng:
Trên 100 ngàn người lạc giáo dần dần qui chánh, vô số tội nhân trở về trong một
thời gian ngắn ngủi.
Tháng Mười, tháng Mân côi lại về với các
tín hữu trên khắp thế giới. Tháng này Giáo hội khuyến khích dặc biệt các tín
hữu siêng năng làn hạt Mân côi và thực thi 3 mệnh lệnh Fatima.
Năm 1917, khi hiện ra với ba trẻ nhỏ ở
Fatima, Ðức Mẹ đã truyền dạy phải thực hiện 3 mệnh lệnh Fatima để cứu nhân loại
và cứu các linh hồn khỏi lửa luyện ngục. Nếu người ta thực thi những mệnh lệnh
này thì thế giới sẽ có hòa bình.
Ba Mệnh lệnh là:
1. Ăn năn đền tội, và cải thiện đời sống
2. Tôn sùng Trái Tim vẹn sạch Ðức Mẹ
3. Lần Chuỗi Mân côi.
Đây chính giải pháp hữu hiệu để Mẹ Maria
cứu thế giới thoát khỏi các thảm họa đang hoành hành và đe dọa sự tồn vong nhâ
loại..
(Nguồn: Lm. Nguyễn Tri Ân, OP)
---------------------
LỜI NGUYỆN CẦU XIN SỰ BẢO VỆ.
Thưa Cha, con đến trước mặt Ngài tuôn đổ
tấm lòng mình và chúc tụng Ngài, là Chúa bình an, Chúa của chúng con. Cầu xin
Ngài đổ đầy Thánh Linh Ngài trong lòng chúng con. Bao bọc chúng con dưới bóng
cánh Ngài và giữ chúng con an toàn khỏi những sự tấn công của ma quỷ; vì Người
nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí Cao, sẽ được hằng ở dưới bóng của Đấng toàn
năng. Cha ơi, Ngài là nơi nương náu chúng con và là đồn lũy chúng con, là Đức
Chúa Trời chúng con, Chúng con luôn tin cậy nơi Ngài.
Giờ này chúng con cầu xin Chúa bẻ gãy mọi
xiềng xích và những mưu kế của Sa-tan đang nhắm vào đời sống chúng con và những
người thân của chúng con. Con cầu xin sự khôn ngoan của Chúa để chúng con nhận
thức rõ những điều đang diễn ra và nhờ cậy Chúa giúp đỡ chúng con bước qua mọi
cám dỗ và nâng đỡ cách bình an. Và xin Cha thêm lên cho chúng con một đức tin
mạnh mẽ, để mỗi lần vượt qua thử thách chúng con sẽ càng trở nên mạnh mẽ và
trông cậy Ngài hơn.
Xin giúp con chỉ nói ra những điều mà Chúa
muốn chúng con nói, làm những điều mà Chúa muốn chúng con làm, và chỉ suy nghĩ những ý nghĩ mà Ngài
đặt để trong chúng con. Nguyện những điều chúng con làm đem lại vinh hiển cho
Ngài và bày tỏ hình ảnh của Chúa Giêsu qua đời sống chúng chúng con.
Trong danh Chúa Giêsu chúng con cầu nguyện,
Amen
------------------------
BÁN CHÚA
Giuđa bán Chúa một lần
Còn con bán Chúa cả đời mà quên
Lại còn ảo tưởng ngày đêm
Ngỡ mình là một thánh nhân hơn người
Bao nhiêu tội lỗi tày trời
Vậy mà còn dám chê cười Giuđa
Con ăn chia với quỷ ma
Chỉ tìm tư lợi, vô tư bán Thầy
Thấy dân cầm lá trên tay
Vạn tuế đón Thầy, con ảo tưởng thêm
Ngỡ Thầy được vậy là ngon
Ắt là trò cũng hưởng phần thơm lây
Thế nên con bất cần đời
Tháng ngày con chẳng coi ai ra gì
Ngông nghênh, tự đắc, kiêu sa
Ai dám giỡn đùa thì sẽ biết tay
Ai dè Chúa chịu đắng cay
Khiến con thất vọng trắng tay ê chề
Bán Thầy, con chẳng ngại gì
Bán đi bán lại giá ba mươi đồng
Rốt cuộc tay trắng hoàn không
Con càng thất vọng, chán chường, sầu lo
Nhiễm vào hội chứng Giuđa
Càng ngày càng hóa trầm kha quá rồi !
Thầy ơi ! Con biết tội rồi
Ăn năn xin Chúa một lời thứ tha
Từ nay con dốc lòng chừa
Xin vâng Thánh Ý mặc dù khổ đau !
QHN
-----------
NÊN “VUỐT ĐẦU NIỆM PHẬT” CHO TRẺ TRƯỚC KHI
CHÚNG ĐI NGỦ
Bài pháp này dành cho các em bé mới sanh ra
cho đến các em 3 tuổi hoặc có thể áp dụng cho đến khi các em lớn...
Khi sanh trẻ ra được một ngày các Mẹ mỗi
lần cho con ngủ hãy nên tập làm ít nhất 1 lần trong 1 ngày: cố gắng Vuốt Đầu,
nói con luôn ngoan, nghe lời cha mẹ và hiếu thuận nha. Lớn lên phải biết tự
lập, tự lo cho mình và trở thành Người có ích cho chúng sanh.
Mỗi lần vuốt là niệm một câu “Nam Mô A Di
Đà Phật”. Hãy vuốt 10 lần cộng thêm 10 câu Phật hiệu kèm theo.
Lợi ích không thể nghĩ bàn nếu các Mẹ trẻ
siêng năng và nhớ cộng thêm việc chịu khó thực hành. Hiệu qủa đạt được khi các
bạn làm chuyên cần thì sẽ được:
1/ Mỗi ngày 1 lần vô tình bạn tạo thói quen
cho trẻ và cho chính mình luyện tâm thanh tịnh trong 1 phút khi niệm Phật.
2/ Mỗi ngày bạn thực hành luyện tâm kiên
trì không quên Phật ngày nào cả.
3/ Trẻ sẽ nhận được sự gia trì của chư Phật
từ nhỏ, ít bệnh tật, oan gia bám theo cũng được nghe Phật pháp. Họ sẽ bớt quấy
phá các con.
4/ Trẻ sẽ lớn lên trong sự ngoan ngoãn và
nghe lời bạn, khi đến 3t hay đến khi biết nói bạn dạy con niệm Phật thì chúng
rất hoan hỷ tiếp nhận.
5/ Hãy vuốt đầu trẻ cho đến 18 tuổi , trẻ
vừa nhận được công đức từ người Mẹ cũng như luyện thói quen niệm Phật đến cả
đời. Khi lớn nếu không có Mẹ vuốt đầu thì các em đó sẽ tự động niệm Phật trước
khi đi ngủ.
6/ Đây là cách gieo chủng tử Phật trong
tiềm thức trước khi trẻ ngủ, bé sẽ ít gặp ác mộng, nếu có gặp thì Mẹ hãy thức
con dạy và nói “A Di Đà Phật, con đang nằm mơ mà cảnh đó không có thật. Khi con
tỉnh dậy mọi thứ đều biến mất nên con không cần hãi sợ. Phật sẽ đến cứu con ..
đây là cách gieo niềm tin cho trẻ, trong thâm tâm chúng luôn an tâm và tin
tưởng sự bảo vệ vô hình của chư Phật và các Vị Hộ Pháp.”
Đây cũng là một trong những kinh nghiệm của
QH nuôi dạy hai đứa nhỏ từ lúc sanh ra đến bây giờ 1 đứa 10t (gái) và 1 đứa 7t
(trai). Nếu đêm nào QH quên thì chúng tự đến đưa đầu và nhắc “Mẹ A Di Đà Phật”.
Khi bị ác mộng thì QH thường đánh thức và nói bên tai chúng những câu nói an ủi
như phía trên.
Các bậc làm cha mẹ nếu muốn con cái lớn lên
nghe lời thì hãy chăm làm cách này. Không khó đâu chỉ đòi hỏi chuyên cần và
“thành tâm chúc tụng Phúc báu” cho các con yêu đều được những gì tốt nhất. Các
con bạn sẽ nhận được hết những phúc báu này mà mỗi ngày bạn chúc cho chúng ngay
ở hiện tại và cả tương lai.
Nhưng ngược lại nếu các bạn, chửi- nguyền
rủa hay chúc lời ác đến các con trong hiện tại và tương lai chúng sẽ nhận hết
tất cả sự đau khổ ở thế gian này, sự thù hận, sự thiếu thốn v.v... Lời không
tốt đó sẽ ứng với chúng không bao giờ hủy được, mười phương chư Phật cũng không
thể nào gỡ được cho chúng. Chỉ có một cách gỡ ra được chính là “Phúc Báu của
con bạn đã sẵn có trong tiền kiếp sẽ cứu được nó”, nếu không thì bạn hãy xem
chúng khổ cỡ nào...
Cho nên Quảng Huệ thành tâm tha thiết mong
các bậc cha mẹ đừng chửi hay rủa con mình nha. Trong lúc tức giận nên nuốt
xuống và tự mình chuyển hoá cái sân hận, vì trong phút chốc nóng giận vô tình
bạn gieo sự đau thương, tang tốc khổ nạn trong tương lai của các con mình. HÃY
CẨN TRỌNG “khẩu nghiệp” lời nói với các con, nếu muốn chúng hạnh phúc, bình an,
sung sướng hay an lạc về sau. Thậm chí cho dù bạn không có ác tâm - ác ý nhưng
khẩu đã thốt ra thì đã được chư Phật chứng. Vì trong các kinh chư Phật luôn
luôn khuyên nhắc chúng sanh việc đầu tiên là gì? Hiếu Kinh Song Thân, kinh Địa
Tạng là kinh đại diện cho việc nêu ra tấm gương Hiếu Thuận cho nên việc Bất
Hiếu là Trời Đất Không Dung. Vì vậy khi bạn chửi rủa chúng thì có nghĩa chúng
Bất Hiếu mới làm bạn nóng giận đúng không? Và bạn mới mở khẩu ấn xuống định
mệnh cho con bạn cả kiếp này không sao phát triển tốt hơn nữa.
Haizz.. việc này rất nghiêm trọng, nếu đời
con trẻ khổ các bậc cha mẹ có Vui nổi không? Chúng quấy phá hư đốn bạn có hãnh
diện nổi không? Nếu chúng nghèo cùng khốn khó tâm cha mẹ có an nhiên sống tốt
không?
Chắc chắn là Không... Thế nên Quảng Huệ ghi lại bài pháp này Kính
Mong các bậc phụ huynh hãy Kiên trì dạy - Kiên nhẫn nuôi con một cách có hiệu
quả để ngày sau các bạn được Thanh Nhàn, Thảnh Thơi cho tuổi xế chiều mà niệm
Phật cầu sanh về cõi Phật.
Trong Phật pháp có nhắc đến con cái đến vì
bốn nhân duyên mà nếu chúng “con là oan gia” hãy biến chúng từ “Oán thành Thân”
bằng Tâm Từ Bi, Tâm chăm sóc cho dù chúng đến trả oán cũng không sát phạt các
bạn. Một khi các bạn chăm lo, sám hối đọc kinh hồi hướng 1 đứa trẻ nào Ngang
Bướng nó cũng sẽ quay đầu. Nếu chúng đến “đền Ơn đáp Nghĩa” thì Phúc lại chồng
thêm Phúc. Thử hỏi câu “ Gia Hoà Vạn Sự Hưng” có dễ làm không ? Rất dễ, chỉ cần
chúng ta chịu khó kiên trì, trong tâm luôn an vui thì những việc này làm rất
hào hứng. Đây là cách truyền năng lượng cho từng thành viên trong gia đình chứ
không riêng gì cho đứa trẻ.
“HÃY GIEO THÓI QUEN TỐT ĐỂ GẶT HÀNH ĐỘNG TỐT
cho trẻ từ lúc ban sinh”.
A Di Đà Phật_()_! Xin thường niệm vì chúng
sanh còn khổ 🙏.
Quảng Huệ xin hồi hướng Phước lành này đến
tất cả các bé- các em thành niên còn cha mẹ cũng như không còn
cha mẹ và “các em thai nhi anh linh” được
tình thương yêu của tha nhân, nhận được sự che chở bảo bọc, dạy dỗ chu đáo đến
khi thành Nhân.
Xin chư Phật mười phương chứng minh cho con
tâm này lan tỏa yêu thương - dâng trọn công Đức khắp mười phương pháp giới
chúng sanh ngày sau đều thành quả Phật.
--------------------------
GIỮ CÁI QUÝ BÁU
Trong nhà Phật nói: “Một đốm lửa sân thiêu
hết cả rừng công đức”. Thật ra nóng giận làm thương tổn chính mình, chớ không
phải thương tổn người khác. Tại sao? Bởi vì khi nóng giận, ta có những lời nói
không hiền lành, tay chân không đàng hoàng, mặt mũi trừng trợn rất dễ sợ. Ai dù
đẹp cách mấy khi nóng giận cũng biến thành hung dữ, ghê tợn. Rõ ràng nóng giận
làm cho mình mất đẹp mà lại còn khiến cho người ghét nữa. Như vậy thương tổn
nhiều ít? Cái làm cho mình thương tổn quá nhiều, tai hại quá lớn như vậy tại
sao ta không bỏ?
Chúng ta biết tu rồi thì phải khôn ngoan,
sáng suốt. Những gì tai hại phải chừa bỏ. Như xử sự với người trong nhà, với
hàng xóm lúc nào cũng ôn hòa, hiền lành, tử tế, không bao giờ nổi nóng, thì mọi
người đâu có giận ghét mình. Khi ta có tai nạn gì, mọi người đều giúp đở. Như
vậy việc làm hiền lành của mình cảm được người khác mến thương. Đó chính là tài
sản ta để dành mà không có gì cướp được.
Chúng ta tu để tìm giữ những gì quí báu của
chính mình, chớ không phải tu để cầu Phật cho cái này cái kia. Người không biết
chuyển tâm niệm tai họa của mình trở thành một tâm niệm tốt đẹp cho mọi người
mến quí thì dù có tài sản bao nhiêu cũng mất hết. Chỉ lo tu tâm sửa tánh hiền
thiện mới thật là người biết gìn giữ tài sản muôn đời.
(Trích TÀI SẢN KHÔNG BAO GIỜ MẤT - Sư Ông
Trúc Lâm Giảng Giải)
------------------------
Ngài là Đức Phật Thích Ca
Một ngày tươi sáng Ta Bà đản sanh
Trần gian đón Ánh Đạo Lành
Khai nguồn Trí Tuệ - Rõ Vành Nhân Sinh
Độ Đời thoát khỏi Vô Minh
Về nương Ánh Đạo lung linh Nhiệm Mầu
Ơn Ngài nguyện Mãi Khắc Sâu
Nguyện luôn Tinh Tấn, Đạo mau Đắc Thành
Nguyện Cầu Pháp Giới Chúng Sanh
Đồng về Cõi Tịnh - Siêu Sanh Niết Bàn
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
------------------------
NAM MÔ BẢN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NHẤT TÂM ĐỈNH LỄ NAM MÔ PHÁP ÂM TRANG
NGHIÊM TỊNH ĐỘ (3 LẦN)
Hôm nay Diệu Minh con xin chư Phật gia hộ
cho con chia sẻ những nhân duyên quả báo nơi lục đạo luân hồi là như thế nào
trích trong (Pháp Bảo) Pháp Âm Trang Nghiêm Tịnh độ của cư sĩ Diệu Âm Diệu Hoa
biên soạn ạ. Con kính mời các chư vị Phật tử cùng con đọc câu 76 sẽ rõ ạ. (Diệu
Minh con hoan hỉ công đức chia sẻ thật vô lượng ạ).
CÂU
76
Những nhân duyên quả báo nơi lục đạo luân
hồi là như thế nào?
TRẢ LỜI
Những người được thân hình to lớn là trước
đây có lòng cung kính người. Những người bị thân hình nhỏ bé là trước đây hay
khinh mạn người. Những người bị thân hình xấu xa là trước đây hay giận tức với
người. Những người sinh ra không biết gì, là trước đây không có học vấn. Những
người ngu đặc, là trước đây không hay dạy bảo người. Những người câm ngọng, là
trước đây hay báng người. Những người, là trước đây không hay nghe kinh Pháp.
Những người làm tôi tớ, là trước đây còn mang nợ chưa trả. Những người ti tiện
là trước đây không lễ kính Tam Bảo. Những người đen xấu là trước đây làm che
ánh sáng của Phật. Những người sinh trong cõi nước khỏa thân, là trước đây hay
mặc áo mỏng, xốc xếch, đường đột vào trong chùa, tháp, tịnh xá. Những người
sinh trong nước có phong tục bó chân như móng ngựa, là trước đây hay đi giầy,
guốc vào trước Phật.
Những người sinh trong nước có phong tục
xuyên ngực, là trước đây tuy bố thí làm phúc nhưng còn tâm hối tiếc. Những sinh
vật sinh trong loài chương, loài hươu, loài nghê, loài hoẵng. . . là trước đây
hay sợ hãi người. Những sinh vật sinh đọa trong loài rồng, là trước đây hay đùa
cợt người. Những người thân thể mọc những ung thư ác độc, điều trị khó khỏi, là
trước đây hay đánh đập chúng sinh. Những người mà người ta trông thấy hoan hỷ,
là đời trước trông thấy người ta có lòng hoan hỉ. Những người mà người ta trông
thấy không hoan hỉ, là đời trước trông thấy người ta không có lòng hoan hỉ.
Những người bị Huyện quan gông xiềng thân thể, giam giữ trong lao ngục, là đời
trước làm người hay nhốt, trói chúng sinh, khiến chúng sinh không được theo ý
tự do của mình. Những người bị sứt môi, là đời trước hay câu cá làm cá sứt môi.
Và, những người nghe lời nói tốt lành, tâm không muốn nghe, lại trong lời nói
đó, phải nói ra trái, làm loạn tâm những người ham nghe và tín thụ kinh Pháp,
người ấy sau phải đọa sinh vào trong vào trong loài chó vểnh tai. Trên đời này
có những người ngu si, nghe những lời thuyết pháp, tâm không chịu ghi nhận, sau
sẽ phải đọa sinh vào trong loài lừa, ngựa tai dài. Những người sẻn so, tham ăn
một mình, sau phải đọa sinh vào trong loài quỷ đói và nếu sau sinh làm người bị
nghèo cùng đói thiếu, áo không che kín mình, ăn không đủ cung miệng. Những
người tự mình ăn thức ăn ngon, cho người thức ăn dở, sau sẽ đọa sinh vào trong
loài lợn, chó, bọ hung. Những ai hay cướp đoạt súc vật người, sau sẽ đọa sinh
vào trong loài dê, bị lột sống da dẻ, đền trả nợ trước. Những ai hay sát sinh,
sau sẽ đọa sinh làm con trùng phù du trên mặt nước, sáng sinh chiều chết. Những
ai hay ăn trộm tài vật của người, sau phải đọa sinh vào trong hàng tôi tớ,
trâu, ngựa, đền trả nợ trước. Những người hay gian dâm vợ, hay con gái người,
khi chết vào địa ngục, con trai phải ôm cột đồng, con gái phải nằm giường sắt,
đến khi ở trong địa ngục ra, thường sinh vào nơi hạ tiện và phải đọa sinh vào
trong loài gà vịt. Những người hay nói dối, tuyên truyền những việc không hay
của người, khi chết vào trong địa ngục, phải bị nước đồng nóng rót vào miệng,
kéo căng lưỡi ra, bắt trâu cày lên trên, đến khi ra, phải đọa sinh vào trong
loài chim cú, vọ, người ta nghe thấy tiếng kêu, không ai là không kinh sợ và
đều nói là biến quái, nguyền rủa cho chết. Những người hay uống rượu say, phạm
vào ba mươi sáu lỗi, chết đi phải đọa vào ngục Phí -Thỉ (nước phân sôi), khi
ra, sinh đọa vào trong loài đười ươi, sau trở lại làm người ngu si, sống đời
sống không biết chi cả, vợ chồng không hòa thuận nhau, hay cãi cọ nhau, hay
đánh đuổi nhau (ly dị) và sau khi chết đi lại đọa sinh vào loài chim cưu, chim
cáp. Những người hay tham lam sức lực của người khác, sau phải đọa sinh vào
trong loài voi.
Những người hưởng tước lộc quan trường,
hoặc bắt những người vô tội, hoặc lấn lút của dân, biên tên lùng bắt, trằng
trói, dùng roi gậy đánh đập, cưỡng bức người dân đem đi, và tố cáo những chuyện
không đâu, rồi đem gông xiềng giam giữ, khiến người dân không được khoan khoái,
thảnh -thơi. Những viên chức đó sau phải đọa vào địa ngục, thân bị đau khổ vài
nghìn ức năm, hết tội được ra, lại phải đọa vào trong loài thủy ngưu (trâu
nước), xuyên thủng lỗ mũi, kéo thuyền, kéo xe, roi gậy đánh đập, đền trả nợ
trước.
Những người không được trong sạch, là từ
trong kiếp lợn mà tới. Những người sẻn so, tham lam không được trong sạch, ngay
thẳng, là từ trong kiếp chó mà tới. Những người cương cường, tự dụng tàn bạo,
là từ trong kiếp dê mà tới. Những người có những hơi hôi tanh, là từ trong kiếp
cá, kiếp ba ba mà tới. Những người hung ác, mang tâm địa khó hiểu, là từ trong
kiếp trăn, kiếp rắn mà tới. Những người ưa thức ăn ngon, hay sát hại chúng
sinh, không có từ tâm, là từ trong kiếp chó sói, hùm beo, con chồn, chim ưng mà
tới. Những người bị chết non, bào thai bị thương trụy, đời sống không được bao
nhiêu, mệnh đà mất sớm, phải sa đọa vào ba đường vài nghìn muôn kiếp. Đức Phật
dạy rằng :những hạng người ấy, đời trước làm người hay đi săn bắn, đốt cháy núi
rừng, tìm tổ đập trứng, chăng lưới bắt cá, sát hại hết thảy chúng sinh. Ôi! Ham
muốn da thịt chúng sinh, để mình ăn uống, mà thường phải chịu báo đoản mệnh,
đời này đời khác, kiếp này, kiếp khác chịu báo không có kỳ hẹn thoát khỏi, vậy
nên phải cẩn thận, nên phải cẩn thận! Thực đau xót không thể nói sao xiết được
!
Phàm làm công đức gì, đều ứng vào nơi mình.
Thắp hương, họp phúc, tụng kinh, hành đạo không nên mướn người chú nguyện hư
dối như :mướn người ăn hộ, mình có no đâu mà không khỏi đói? Thắp hương mới mẻ,
trong sạch, tưởng như tâm hương, thu nhiếp hết thảy tưởng vào nơi nhất tâm, không
còn tạp tưởng, cùng thắp đèn sáng mãi không lúc nào tắt, sẽ chứng được ba đạt
trí, không trở ngại gì. Thắp hương, cúng trai, đọc kinh, cúng dường đồ vật là
Pháp thường làm, lại bố thí nữa, sẽ được phúc, chư Thiên tiếp đãi, muôn ác đều
lui, mọi ma trừ sạch, không dám đương đầu. Những người biếng nhác, trong khi
được sự yên ổn hòa đôi không có tâm tinh tiến, một mai đau yếu, hay có điều gì
không thuận lợi, tốt lành, khi ấy mới muốn thắp hương cầu khẩn và cho đó là làm
phúc, như thế thời chư Thiên chưa giáng, mọi ma đã tới tranh nhau xúc nhiểu,
làm mọi sự biến đổi, quái gở. Bởi những lẽ ấy, mọi người thường nên tinh tiến!
Tội, phúc theo mình, như bóng theo hình. Gieo trồng cội phúc, cũng như cây
xoài, vốn chỉ một hạt mà hái quả vô hạn. Bố thí một phần với tâm thanh tịnh,
được gấp muôn phần.
Nam mô A di đà Phật
Nguyện đem công đức này
Trang Nghiêm Phật Tịnh độ
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ ba đường
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát lòng Bồ đề
Hết một báo thân này
Sinh về cõi Cực lạc
Nam mô Tây Phương Cực lạc thế giới Đại Từ
đại bi A di Đà Phật
Nam mô A di đà Phật
Nam mô A di đà Phật
Nam mô A di đà Phật
-------------
THẾ NÀO LÀ THIỀN ĐỊNH
( Sư Ông Trúc Lâm )
Này Thiện tri thức, sao gọi là Thiền định?
Ngoài lìa tướng là thiền, trong chẳng loạn là định.
Ngài định nghĩa Thiền định: Ngoài đối tướng
không kẹt tướng là thiền, trong không loạn là định, tu thiền định là tu như
vậy. Nhiều khi có người hỏi: Thưa Thầy, Thầy tu thiền định như thế nào? Chúng
ta thường đáp: Tu thiền định là phải ngồi kiết-già v. v. . . Đối với Lục Tổ
không phải như thế.
Thiền định của Ngài dạy là: ngoài lìa tướng
là thiền, trong tâm không loạn là định; như vậy chúng ta đi ngoài đường hay
cuốc cỏ nhưng ngoài lìa tướng và trong tâm không loạn là chúng ta đang thiền
định.
Có khi chúng ta ngồi nơi chợ mà được ngoài
lìa tướng, trong tâm không loạn cũng là chúng ta đang thiền định; trái lại ngồi
trên chùa nhưng cứ nhớ tướng mãi là không phải thiền định. Tổ dạy thật là rõ,
chính điểm này mới thấy được giá trị chân thật của sự tu hành.
*** Trích Trong ( KINH PHÁP BẢO ĐÀN - SƯ
ÔNG TRÚC LÂM DỊCH & GIẢNG GIẢI ) https://thuongchieu. net
------------------------
Hai Cha Con Làm Nghề Săn Bắt Thú Chết Bất
Đắc Kỳ Tử Bị Nấu Trong Nồi Nước Sôi Nơi Âm Ty
Lưu Ma Nhi ở Phần Châu, cả nhà làm nghề săn
bắt thú. Một hôm, ông cùng với đứa con trai là Lưu Sư Bảo bỗng kế tiếp nhau lăn
ra chết. Phía bắc nhà ông có người hàng xóm là Kỳ Lũng Uy, bị bệnh chết rồi tự
nhiên sống lại. Nhân đó kể với mọi người rằng lúc ở dưới âm ty có nhìn thấy hai
cha con Lưu Ma Nhi bị nấu trong chảo nước sôi, da thịt rã dần đến hết sạch, chỉ
còn nhìn thấy xương. Sau đó rất lâu, thân xác mới trở lại như cũ. Lũng Uy hỏi
nguyên nhân, liền có người đáp rằng: “Trước đây thích đốt lửa [để xua đuổi] mà
bắt thú, nên nay phải chịu tội như vậy.”
Lời bàn:
Kinh Phật dạy rằng: “Trong cảnh giới địa
ngục, mỗi một ngày đêm có vạn lần chết đi sống lại. Mỗi khi [thọ hình đến mức]
chết đi liền có cơn gió thổi qua làm sống lại, tiếp tục phải chịu đựng hình
phạt khổ sở ấy. Nếu nghiệp báo chưa hết thì dù kéo dài cho đến lúc đất đai sông
núi đều hư hoại, hình phạt ấy cũng chưa từng được dừng nghỉ trong giây lát.”
Cho nên, kinh Địa Tạng có nói rằng: “Khi
thế giới này hư hoại, [người thọ nghiệp báo] chuyển sinh sang thế giới khác;
khi thế giới ấy hư hoại, lại chuyển sinh sang thế giới thuộc phương khác; khi
các thế giới thuộc phương ấy đều hư hoại, lại lần lượt chuyển sinh sang phương
khác nữa, đợi cho đến sau khi thế giới này hình thành xong thì sinh trở lại đây
[tiếp tục thọ nghiệp]. (*)
Than ôi, không nghĩ đến thì thôi, nếu suy
xét kỹ thật đáng sợ biết bao!
(*)Theo kinh Phật, mỗi một thế giới đều
tuần tự trải qua bốn giai đoạn là thành (hình thành), trụ (tồn tại), hoại (hư
hoại) và không (trở nên trống rỗng không còn gì). Bốn giai đoạn ấy nối nhau
tuần hoàn, nên sau giai đoạn không thì thế giới hình thành trở lại.
Trích An Sĩ Toàn Thư – Khuyên Người Bỏ Sự
Giết Hại
Nguyên tác Hán văn: Vạn Thiện Tiên Tư
Tác Giả: Chu An Sĩ
Việt dịch và chú giải: Nguyễn Minh Tiến
---------------------
Bệnh được chia làm 3 loại.
Thân bệnh
Tâm bệnh
Và nghiệp bệnh.
Bệnh về thân hẳn phải có sinh lão bệnh tử,
đó là tuần hoàn không thể tránh.
Nhưng tâm bệnh gặp Pháp nhiệm mầu, hiểu
nhân quả, báo ứng thì tâm thông ý viên. Bệnh về tâm chẳng còn.
Nghiệp bệnh cũng thế, chẳng kết thù với hết
thảy chúng sanh trong đời này và luôn sám hối, tu thập thiện nghiệp, niệm Phật,
trì Kinh Địa Tạng, phát Tâm Chay Trường cho đến giữ gìn giới luật và hồi hướng
công đức cho oan gia trái chủ, và nguyện vãng sanh cực lạc độ hết thảy hữu tình
chúng sanh thì thân nghiệp đời này như chết yểu, ung thư, tai nạn... Chẳng thể
nào sảy ra. Nếu có sảy ra đi chăng nữa thì cũng là "cộng nghiệp" tức
trả nợ ngay trong một đời này để ăn vui về sau.
Xin thường niệm Nam Mô A Di Đà Phật
---------------------
HIỆN NAY CÓ RẤT NHIỀU NGƯỜI BỊ NHỮNG
THỨ KHÔNG SẠCH SẼ (VONG NHÂN) THEO THÂN, CHÚNG TA Ở TRÊN PHẬT ĐƯỜNG VÌ
HỌ TỤNG KINH, VÌ HỌ LÀM VIỆC TỐT HỒI HƯỚNG CHO HỌ, NẾU HỌ TIẾP
NHẬN ĐƯỢC, THÌ HỌ SẼ ĐI, BỆNH CỦA BẠN SẼ LIỀN KHỎI. PHIỀN PHỨC HƠN
LÀ BỆNH NGHIỆP CHƯỚNG, ĐÃ KHÔNG PHẢI DO SINH LÝ, CŨNG KHÔNG PHẢI OAN GIA
TRÁI CHỦ, NGHIỆP CHƯỚNG TẠO TÁC CÁI TỘI NGHIỆP ĐÃ QUÁ NẶNG, CÁI TỘI
NGHIỆP NÀY HƠN MỘT NỮA LÀ TẠO TRONG ĐỜI TRƯỚC, ĐỜI NÀY HƯỞNG HẾT
PHƯỚC THÌ NGHIỆP CHƯỚNG LIỀN HIỆN TIỀN, CHO NÊN PHẬT THƯỜNG HAY KHUYÊN
BẢO CHÚNG TA PHẢI QUÝ TIẾC PHƯỚC BÁO, PHẢI THƯỜNG XUYÊN BỒI PHƯỚC.
Một số người nói là: Có lão hòa
thượng kia quanh năm mắc nhiều thứ bệnh, ông vô cùng từ bi, vì đem tội
của chúng sanh chúng ta gánh hết lên người của ông, thật là quá giỏi,
còn pháp sư Tịnh Không một chút lòng từ bi cũng không có, tội của
chúng ta ông không gánh chút nào hết, những lời này nghe qua dường như
rất có đạo lý, vì vậy mong rằng người nghe được phải cẩn thận, không nên
để cho thuật che mắt này lừa gạt, tại vì sao không làm sự thị hiện
trực tiếp?.
Phật Bồ Tát tại thế gian này làm ra các
sự thị hiện đều không nhất định, nhưng mà các ngài có cái nguyên tắc,
là “tùy bệnh mà cho thuốc”, bệnh của chúng sanh là ở tại chỗ nào,
dùng phương pháp gì để giúp đỡ họ, xem bệnh bốc thuốc, thuốc đến liền
khỏi bệnh.
Tất cả chúng sanh quả thật đều có
nghiệp chướng nghiêm trọng, nghiệp chướng người khác có thể gánh thay
hay không? Chúng ta đọc thấy ở trên kinh Phật nói, không thể gánh thay,
Phật cũng không thể gánh vác thay, Phật năm xưa tại thế đã biễu diễn
cho chúng ta xem, tộc Thích Ca bị vua Lưu Ly tiêu diệt, Thích Ca Mâu Ni
Phật có thể giúp đỡ họ được không?
Nhìn thấy gia tộc bị người ta tiêu
diệt, mà không biết phải làm sao, tôn giả Mục Kiền Liên có lòng từ
bi, đã đem gia tộc của Phật, ngài dùng thần thông đem họ để vào trong
bát của mình, đem bát đó mang lên không trung để tránh cái nạn này,
tránh khỏi cái kiếp nạn này, sau đó quay xuống nhìn lại vào trong
cái bát này, bên trong bát chỉ toàn là máu, ngài mới hiểu được
nghiệp báo của chúng sanh, oai thần của Phật Bồ Tát không thể giúp được
gì, Phật không thể chuyển định nghiệp nhân quả của chúng sanh.
Phật giúp đỡ chúng sanh là dạy bảo, dạy
bạn cách chuyển như thế nào, bạn chịu chuyển thì sẽ chuyển trở lại,
vì sao vậy? Bạn tự mình làm, gọi là “tháo chuông cần phải có người
buộc chuông”, bạn tự mình tạo nghiệp, thì bạn tự mình hóa giải,
vậy thì mới đúng, người khác chẳng thể giúp được gì.
Vì thế chúng ta nói đến bệnh có ba
loại, bệnh tật về mặt sinh lý, chỉ cần bản thân chúng ta chú ý giữ
gìn sức khỏe, thì có thể tránh được, ăn uống phải đặc biệt chú ý,
thuốc không thể uống một cách tùy tiện, chúng ta còn có một cái bệnh,
đó là bản thân biết được loại thuốc gì tốt, thì sẽ giới thiệu cho
người khác, bệnh của người ấy có giống với bệnh của ta hay không?
Dù cho bệnh như nhau thì thể chất có
giống nhau không? Thể chất không giống nhau thì vẫn là không thể đạt
hiệu quả, cho nên bệnh về mặt sinh lý, nhất định phải hỏi ý kiến
bác sĩ, để họ đưa ra một số phương diện ăn uống mà tham khảo, họ có
thể giúp đỡ bạn, đây là bệnh về mặt sinh lý, còn oán thân trái chủ
tìm đến trên thân bạn, là ma quỷ là quỷ theo thân, việc này thì bác
sĩ cũng hết cách, Phật thì có cách, bệnh về mặt sinh lý thì Phật
không có phương pháp, nhưng mà loại bệnh do oán thân trái chủ, bác sĩ
không có cách, Phật thì có cách.
Phật dùng cách gì vậy? Điều giải,
hòa giải cho hai bên, nếu như đối phương tiếp nhận, họ sẽ rời khỏi
thì bệnh liền hết, các vị xem thấy trong Phật môn có “Từ Bi Tam Muội
Thủy Sám”, Ngộ Đạt quốc sư bị mụt nhọt hình mặt người, đó là oan
gia trái chủ theo thân, đó là muốn lấy mạng của ông, đến để báo
thù, tôn giả Ca Nặc Ca đã hóa giải cho ông, họ tiếp nhận, liền rời
khỏi, mụt nhọt mặt người liền mất đi.
Vì vậy Phật có thể giúp đỡ chúng ta trị
bệnh thì chỉ có một loại này, hiện nay có rất nhiều người bị những
thứ không sạch sẽ (Vong Nhân) theo thân, chúng ta ở trên Phật đường vì
họ tụng kinh, vì họ làm việc tốt hồi hướng cho họ, nếu mà họ tiếp
nhận được, thì họ sẽ đi, bệnh của bạn sẽ liền khỏi.
Loại thứ ba thì rất phiền phức, bệnh
nghiệp chướng, đã không phải do sinh lý, cũng không phải oan gia trái
chủ, nghiệp chướng tạo tác cái tội nghiệp đã quá nặng, cái tội nghiệp
này hơn một nữa là tạo trong đời trước, đời này phước báu hưởng
hết thì nghiệp chướng liền hiện tiền, cho nên Phật thường hay khuyên bảo
chúng ta phải quý tiếc phước báo, phải bồi phước, không nên xem thường
hai câu nói này, nó rất quan trọng.
PHẬT
THUYẾT ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH (TẬP
249).
CHỦ GIẢNG: HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG
XIN THƯỜNG NIỆM A DI ĐÀ PHẬT _()_
---------------------
CÔNG NĂNG TỤNG NIỆM MẬT CHÚ PHẬT ĐẢNH TÔN
THẮNG ĐÀ RA NI
(Hoan nghênh chia sẻ công đức vô lượng)
Nhiều vị phật tử hỏi Diệu Hoa công đức trì
chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni. Nay Diệu Hoa xin nói công năng của sự thỉnh
thọ mật Chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni. Có nhiều người đã nói những lời không
hay về mật chú này, cả người thọ mật chú này trước đây nhưng sau mang tâm khác
đối với mật chú này. Mất đi rất nhiều phần lợi lạc. Tụng chú đừng chấp vào có
công đức hay không công đức, nghiệp trả nhanh hay chậm, phước báu hay khổ đau,
tụng có bài bản như một bài tụng niệm hay không, có đối trước bàn thờ Phật hay
không, có mặc áo tràng hay không, có bị kinh động quỹ thần thổ trạch hay các
vong linh hay không, nếu chấp trước mãi, công đức không sanh, hoặc nếu lỡ tụng
rồi thì bản thân mình và người thân có sao hay không, nếu chấp trước, mất lợi
lành về sau. Xin hãy dụng tâm thanh tịnh thọ pháp tất sẽ được lợi lành. Đời này
chưa hưởng, đời sau sẳn dành.
Kinh nói:
“Môn Như Lai Quán Đảnh Thanh Tịnh Chư Thú
Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni này đã có tám mươi tám câu chi, trăm ngàn hằng sa
chư Phật đã tuyên thuyết, và nghiêm mật thủ hộ, tùy hỷ ngợi khen. Tất cả Như
Lai đều đồng ấn khả.
Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thiện nam tử,
thiện nữ nhơn nào thọ trì hoặc đọc tụng. Do công đức ấy, nên những tội Ngũ
nghịch, Thập ác trong trăm ngàn muôn kiếp đều được tiêu trừ, sẽ chứng quả A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Kẻ ấy trong kiếp hiện tại sẽ được túc mạng
trí, sau khi xả bỏ báu thân nầy, sẽ sanh từ cõi Trời này đến cõi Trời khác, từ
cõi Phật này đến cõi Phật khác.
Kẻ ấy sẽ được chư Bồ Tát Ma Ha Tát như Văn
Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát, Thế Chí Bồ Tát, xoa đầu
thọ ký.
Kẻ ấy thường ở nơi các đạo tràng, nghe hiểu
và thọ trì chánh pháp.
Kẻ ấy ba nghiệp thân, ngữ, ý hằng luôn
thanh tịnh, tâm an vui, thân khổ dứt trừ, luôn luôn được những xúc giác nhẹ
lành, thọ mạng tăng thêm, không bị hoạnh tử.
Kẻ ấy sẽ được chư thiện thần hộ vệ, chư Bồ
Tát từ ái, chư Phật hệ niệm. Người trì Chú này khi đến cõi Địa ngục, Ngạ quỷ,
Diêm Ma vương đọc tụng, thì các tội phạm nơi đó đều được giải thoát, cảnh giới
trống rỗng, các cung trời, cung điện của Bồ Tát, cung điện cõi Phật đều mở cửa
rước người thọ trì Thần Chú vào.
- Tại sao thế?
Bởi vì môn Đà Ra Ni này, hay trừ sạch tội
Ngũ nghịch, Thập ác của chúng sanh. Hay cứu tất cả sự khổ nạn trong cảnh Diêm
Ma, Bàng Sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục.
Hay độ thoát tất cả chúng sanh nghiệp nặng,
phước mỏng, nghèo nàn, hèn hạ, đau bịnh, tàn tật, yểu thọ, xấu xa, câm ngọng,
đui điếc.
Hay cứu vớt các loài A Tu La, Dạ xoa, La
sát, Phú đơn na, Ca tra Phú đơn na, các thân quỷ, thần, cho đến hay độ thoát
tất các loài thủy tộc, phi cầm, tẩu thú, rắn rết, ruồi muỗi, côn trùng.
Các chúng sanh ấy tùy phận sẽ được sanh về
các cảnh giới an lành, và lần lượt đều được chứng quả giải thoát.
Nếu có chúng sanh nào phạm tội Tứ trọng,
Ngũ nghịch, Thập ác, các trọng giới và tất cả tội nặng, đáng lẽ đọa tam đồ, ác
đạo, thọ vô lượng tội khổ, mà đi ngang qua tháp hoặc phướng có để Đà Ra Ri này,
được một điểm bụi hay một chút gió từ nơi tháp phướng ấy dính nhiễm đến thân
mình, hoặc được bóng tháp phướng che thì tất cả các tội nặng thảy đều được tiêu
trừ, sanh về cõi Trời hưởng sự vui thắng vi diệu, hoặc tùy duyên sanh về Tịnh
độ.
Kẻ nào thường thọ trì Đà Ra Ni này, khi sắp
tụng niệm dùng nước rửa tay, nước đó rơi xuống đất, rưới nhằm các loài trùng
kiến, các vật loại ấy đều được nhờ ảnh hưởng công đức, mà được sanh lên cõi
Trời.
Cho nên các hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thiện
nam, tín nữ nếu trai giới thanh tịnh, ngày sáu thời thọ trì Đà Ra Ni này, thì
các tội Tứ trọng, Ngũ nghịch, Thập ác… cùng tất cả các tội nặng trong ba đời
thảy đều được tiêu diệt, được chư Phật, Bồ tát xoa đầu thọ ký.
Nếu kẻ nào tuy chưa trì tụng, mà chỉ nghe
âm thanh của Đà Ra Ni này lọt vào tai, tức liền thành hạt giống Phật.
Ví như một chút kim cang rớt xuống đất, tất
lần lượt xuyên lọt đến nơi bản tế mới dừng lại, đất tuy dày không thể làm trở
ngại được. Thần Chú này cũng thế, khi đã lọt vào tai, liền huân tập chủng tử,
khiến cho lần lần thành tựu quả Chánh đẳng, Chánh giác, phiền não tuy nặng cũng
không thể ngăn che.
Dù kẻ ấy có bị đọa vào trong cõi Địa ngục,
Ngạ quỷ, bàng sanh đi nữa cũng không bị nghiệp báo làm cho hạt giống đó tiêu
mất, mà trái lại còn nương sức thần Chú lần lượt tiến tu cho đến khi thành
Phật.
Nếu chúng sanh nào một phen nghe được Đà Ra
Ni này, qua kiếp hiện tại sẽ không còn bị các tật bịnh và các sự khổ não, không
còn bị các khổ não, cũng không còn thọ thân bào thai, tùy theo chỗ hóa sanh
hiện nơi hoa sen.
Nếu có chúng sanh nào mỗi ngày trì tụng Chú
này 21 biến, thì kẻ ấy ưng tiêu được sự cúng dường rộng lớn của tất cả thế
gian, khi xả báo thân sẽ được sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Còn kẻ nào thường niệm tụng sẽ được tăng
thọ mạng, hưởng sự vui thù thắng, tương lai sanh về mười phương Tịnh độ, nghe
pháp mầu, được thọ ký, ánh sáng nơi thân chiếu tất cả cõi Phật, và chứng Đại
Niết bàn v.v….”
Do mật Chú này có công năng không thể nghĩ
bàn được Chư Phật nhiếp thọ cho nên trong quá trình thỉnh thọ sẽ có chướng nạn,
phần là do nghiệp đến, phần do các khảo của thiên ma. Đúng lý ra phải sanh
trong lục đạo luân hồi hay đọa vào địa ngục tùy theo nghiệp nhân xấu ác mà
chúng ta gây ra, nhưng do biết sám hối tội lỗi từ nhiều kiếp, phát tâm tụng Chú
này khiến giảm nghiệp chướng từ nặng đến nhẹ từ nhẹ hóa không, nên trong quá
trình thỉnh thọ sẽ có đau đầu chóng mặt, mệt mỏi, buồn ngủ, xay xẩm, khó chịu
hoặc khó thở, hoặc gia đình lục đục khó an khó nhẫn, hoặc trăm điều tai tiếng.
Nhưng không phải vị nào tụng mật Chú này cũng đều như vậy, tùy vào nghiệp duyên
mà trong lúc thỉnh thọ sẽ có những hiện tượng khác nhau, hoặc người có hoặc
người không đều là do nghiệp dày hay nghiệp mỏng. Những hiện tượng đó chỉ xảy
ra một thời gian ngắn rồi qua hoặc xảy ra trong lúc tụng Chú và sau khi tụng
Chú không lâu. Nhưng xin đừng vì thế mà bỏ sự thỉnh thọ mật Chú này thì mất sự
lợi lạc lớn lắm.
---------------------
GIỮ TÂM CHO TỐT, LÀM VIỆC TỐT, NÓI LỜI HAY,
LÀM NGƯỜI TỐT. NHƯ VẬY NHẤT ĐỊNH CÓ QUẢ BÁO TỐT ĐẸP.
Con người nhất định phải biết tu phước, tu
huệ. Phước huệ song tu cũng không ngoài pháp bố thí. Tài bố thí được phước báo,
được đại phú. Pháp bố thí được trí huệ. Vô uý bố thí được mạnh khoẻ trường thọ.
Chúng ta đều hy vọng mình ở trên thế gian, có thể được ba loại quả báo này. Quả
nhất định có nhân, nhân nhất định cảm quả. Nhân quả báo ứng không sai chút nào.
Tu ba loại nhân nhất định cảm được ba loại quả báo.
Mặc dù thiên tai hiện tiền mọi lúc mọi nơi,
nhưng người có phước báo họ sẽ không chịu đói khát, đến lúc đó tự nhiên họ có
thức ăn, luôn có y phục ấm áp. Vì sao? Bởi họ có phước báo. Tu nhân cảm được
quả. Đặc biệt là thời đại hiện nay, thiên tai ngày càng nhiều. Khi chúng ta còn
có năng lực này, nên hành bố thí. Quan tâm đến người bần cùng, chăm sóc người
đau khổ, dùng tài lực, vật lực để chu cấp cho họ. Khi thiên tai xảy ra, ta sẽ
gặp may mắn, bình an vô sự. Nếu chỉ biết mình không biết người khác, khi thiên
tai đến e rằng chính mình còn không lo được. Trước lúc thiên tai, khi thiên tai
chưa phát sanh, nên cố gắng tu nhân, như vậy mới là hành động đúng đắn nhất.
Nên giữ tâm cho tốt, làm việc tốt, nói lời hay, làm người tốt. Như vậy nhất
định có quả báo tốt đẹp.
Trích “Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa”
tập 304.
Hòa Thượng Tịnh Không.
XIN THƯỜNG NIỆM PHẬT & LẠY PHÂT:
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
---------------------
NAM MÔ BỖN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT!!!CÙNG
TẤT CÃ ĐÁNG CHÂN KÍNH!!
XIN! TẤT CÃ TOÀN VŨ TRỤ CÙNG MỌI VẬT MỌI
LOÀI TỪ ĐÂY! LUÔN SỐNG NHƯ CHÂN ĐẠO DẠY!!!
TIN TẤN! ĐÊM LẪN NGÀY! ĐEM CHÂN TỪ TÂM!
DỰNG XÂY!!!
XIN! THẾ GIỚI!! MỌI LOÀI!!! CHÂN NHƯ
CHÂN!GIỚI! ĐỨC!!! HẠNH TỪ NAY!!!!
NAM MÔ CHÂN CHÂN KÍNH SÁM HỐI TRI ÂN TẠ ÂN
TẤT CÃ!!!
NAM MÔ TẤT CÃ TOÀN VŨ TRỤ Y GIÁO PHỤNG HÀNH
VÌ CHÂN KÍNH HIẾU HẠNH TRI ÂN TOÀN VŨ TRỤ VĨNH CỮU BẰNG CÃ CHÂN NHƯ CHÂN TỰ
KIỄM SỮA CHÍNH MÌNH BẰNG GIỚI ĐỨC HẠNH CHÂN TỪ CHÂN TÂM QUÁN TỪ TÂM QUÁN TỪ TÂM
VÌ TẤT CÃ VĨNH CŨU BẤT SANH BẤT DIỆT TẤT CÃ XIN CỐ GẮNG RÈN LUYỆN TRƯỜNG CHAY
VÌ CHÂN TỪ TÂM CHÂN KÍNH SỰ SỐNG KỄ CÃ LOÀI VẬT NHÕ NHẤT CŨNG ĐƯỢC AN TOÀN NHƯ
CHÍNH MÌNH LUÔN QUÉT SẠCH THÂN LẪN TÂM BẰNG CHÂN NHƯ CHÂN TÂM TỪ CŨA PHẬT ĐÂU
ĐÂU CŨNG AN TOÀN TUYỆT ĐỐI VĨNH CỮU AN NHIÊN TỰ TẠI PHẬT PHẬT QUỐC CHÂN NHƯ
KÍNH KÍNH NHƯ CHÂN TRƯỜNG CHAY TOẠ THIỀN TỪ TÂM QUÁN TRONG TẤT CÃ SUY NGHĨ CỮ
CHĨ HÀNH ĐỘNG NHƯ NHƯ PHẬT PHẬT!!!
NAM MÔ TẤT CÃ TOÀN VŨ TRỤ CHÂN NHƯ CHÂN
TRÃI TỪ CHÂN TÂM NHAU VIÊN MÃN NHƯ NHƯ PHẬT ĐANG TRONG HANG RẮN ĐỘC BÌNH ĐẴNG
CHÂN NHƯ KÍNH KÍNH NHƯ CHÂN KHÔNG KHỠI TÂM ĐAU KHỖ NHAU TUYỆT ĐỐI CHÂN NHƯ CHÂN
TỪ TUỆ CHÂN TÂM NHƯ NHƯ PHẬT PHẬT!!!
NAM MÔ TẤT CÃ TOÀN VŨ TRỤ CHÂN NHƯ CHÂN TỪ
TÂM QUÁN ĐOẠN NHÂN SÁT SANH KỄ CÃ LOÀI VẬT NHÕ NHẤT NÊN PHÃI TRƯỜNG CHAY NÊN
PHÃI TRƯỜNG CHAY VÌ CHÂN KÍNH SỰ SỐNG CŨA NHAU VÌ CHÂN TỪ CHÂN NHƯ KÍNH KÍNH
NHƯ CHÂN VIÊN MÃN NHƯ NHƯ PHẬT CHÂN TÂM PHẬT!!!
TRƯỜNG CHAY LÀ LÀM THIỆN VÌ KHÔNG LÀM ĐAU
KHỖ VÀ LẤY ĐI SỰ SỐNG KỄ CÃ LOÀI VẬT NHÕ NHẤT CŨNG ĐƯỢC AN TOÀN NHƯ CHÍNH MÌNH
NHƯ NHƯ PHẬT!!!
BÀI HỌC THẬT HỮU ÍCH XIN TẤT CÃ TỰ SUY NGẪM
NẾU LỠ LẦM LỖI XIN TỰ TĨNH THỨC KIỄM SỮA CHÍNH MÌNH HỮU ÍCH NHƯ NHƯ PHẬT
PHẬT!!!
NAM MÔ TẤT CÃ TOÀN VŨ TRỤ CHÂN NHƯ KÍNH
KÍNH NHƯ CHÂN LO NGOAN ĐẠO TU THÔI TU TẤT CÃ ĐỀU TU ĐÂU ĐÂU CŨNG THIÊN ĐÀN PHẬT
PHẬT QUỐC NHƯ NHƯ PHẬT CHÚA KHÔNG CÒN AI ĐAU KHỖ KHỖ ĐAU NHƯ NHƯ PHẬT BÀI HỌC
THẬT HỮU ÍCH!!
NAM MÔ TẤT CÃ TOÀN VŨ TRỤ Y GIÁO PHỤNG HÀNH
SUY NGẪM TỰ KIỄM SỮA CHÍNH MÌNH VIÊN MÃN NHƯ NHƯ PHẬT PHẬT!!!
ĐƠN GIÃN ĐƠN GIÃN ĐẠI ĐƠN GIÃN THIỄU DỤC
TRI TÚC THIỄU DỤC TRI TÚC ĐẠI THIỄU DỤC TRI TÚC VIÊN MÃN NHƯ NHƯ PHẬT PHẬT!!!
NAM MÔ TẤT CÃ VÌ HIẾU HẠNH CHÂN KÍNH TOÀN
VŨ TRỤ Y GIÁO PHỤNG HÀNH CHÂN NHƯ CHÂN GIỚI ĐỨC HẠNH GỌN GÀNG NGĂN NẮP SẠCH SẼ
TẮM GỘI GIẶC SẠCH SẼ MỖI KHI RA KHÕI NHÀ CŨNG NHƯ KHI VỀ ĐẾN NHÀ ĐÓ LÀ MÓN QUÀ
VÔ GIÁ CŨA CHÚNG TA CÙNG KÍNH CÚNG DƯỜNG NHAU ĐÂU ĐÂU CŨNG THANH NHƯ KHIẾT
KHIẾT NHƯ THANH THUẦN NHƯ THIỆN THIỆN NHƯ THUẦN CUNG KÍNH CÚNG DƯỜNG TOÀN VŨ
TRỤ THANH KHIẾT NHẤT THÂN LẪN TÂM KHÔNG KHÍ MÔI TRƯỜNG ĐÂU ĐÂU CŨNG CHÁNH ĐIỆN
PHẬT PHẬT QUỐC NHƯ NHƯ PHẬT PHẬT!!! NAM MÔ TẤT CÃ. TOÀN VŨ TRỤ CHÂN NHƯ CHÂN
HIẾU HẠNH HIẾU CHA HIẾU MẸ TÕ TIÊN HIẾU CON HIẾU TOÀN VŨ TRỤ NHƯ NHƯ PHẬT ĐÀ
THÍCH CA PHẬT!!!
NAM MÔ TẤT CÃ TOÀN VŨ TRỤ VÌ HIẾU HẠNH TRI
ÂN TÂM QUYẾT NHỮNG BẬC QUÊN MÌNH VÌ HOÀ BÌNH CHO CHÚNG TA THỪA HƯỠNG CHÂN NHƯ
CHÂN TĨNH THỨC Y GIÁO PHỤNG HÀNH ĐI ĐẾN NƠI NÀO CŨNG LẤY CHÂN TỪ TÂM ĐI ĐẦU
LUÔN BỖN PHẬN TRÁCH NHIỆM BÃO VỆ ĐEM AN TOÀN NHAU NHƯ CHÍNH MÌNH KỄ CÃ LOÀI VẬT
NHÕ NHẤT CŨNG TRỢ DUYÊN NHAU THÂN LẪN TÂM KHÔNG KHÍ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH GIỚI
ĐỨC HẠNH TỰ KIỄM SỮA PHƯỚC ĐỨC CHÍNH MÌNH CHÂN NHƯ CHÂN THUẦN THIỆN THANH KHIẾT
NGOAN ĐẠO NHƯ NHƯ PHẬT NHƯ NHƯ CHÚA THƯỜNG HẰNG VĨNH CỮU BẤT SANH BẤT DIỆT ĐÂU
ĐÂU CŨNG THIÊN ĐÀN PHẬT PHẬT PHẬT QUỐC NHƯ NHƯ PHẬT CHÚA PHẬT!!!
NAM MÔ CHÂN CHÂN KÍNH SÁM HỐI TRI ÂN TẠ ÂN
TẤT CÃ!!!
NAM MÔ TẤT CÃ NHÀ NHÀ TRÊN TOÀN VŨ TRỤ ĐÂU
ĐÂU CŨNG GIỚI ĐỨC HẠNH PHẬT PHẬT QUỐC CUNG KÍNH CÚNG DƯỜNG TOÀN VŨ TRỤ VIÊN MÃN
NHƯ NHƯ PHẬT PHẬT!!!
---------------------
15 lời Phật dạy để sống hạnh phúc
1. Quá khứ dù tồi tệ đến đâu, ta vẫn có thể
làm lại từ đầu.
2. Ngày hôm nay là ngày quan trọng nhất.
Mỗi buổi sáng thức dậy hãy cứ mỉm cười.
3. Có được thân thể khỏe mạnh chính là
phước báu. Hãy trân trọng từng phút giây của cuộc đời.
4. Một người là kết quả của những gì anh ta
suy nghĩ. Hãy nuôi dưỡng sự thanh tịnh, hạnh phúc tự sẽ đuổi theo mình.
5. Thanh tịnh, và giản đơn là đôi cánh của
sự thăng hoa.
6. Tâm của bạn là tên lừa gạt đáng sợ nhất.
Người khác chỉ gạt bạt phút giây, nhưng nó sẽ lừa bạn cả đời.
7. Thù hận giống như than đỏ, nếu nắm chặt
nó ta sẽ bị bỏng trước khi ném cho người khác.
8. Người không tham ái thì không mong cầu,
không mong cầu thì sẽ không sợ hãi.
9. Người có trí thì vững như bàn thạch. Họ
không bị chi phối bởi giông bão của những nhận xét khen chê.
10. Thứ không thuộc về mình thì đừng cố
chấp. Đôi lúc buông xả mới là hạnh phúc của cuộc đời.
11. Tâm bám chấp là nguồn gốc của khổ đau.
12. Vạn pháp thế gian vốn dĩ vô thường.
Niềm vui và nỗi đau dù lớn đến đâu cũng không tồn tại mãi.
13. Nếu không nhận ra và biết ơn những thứ
mình đang có. Bạn sẽ chẳng bao giờ tìm được hạnh phúc đích thực.
14. Hãy cẩn trọng trong suy nghĩ, lời nói
và hành động của mình. Nhân quả không chừa bất cứ một ai.
15. Một đốm lửa có thể thiêu đốt cả một khu
rừng. Một con rắn nhỏ có thể khiến ta mất mạng. Đừng nghĩ có thể xem thường
những điều nhỏ bé.
---------------------
---------------------
(Hoan nghênh chia sẻ. Công đức vô
lượng).
Dạ. Nam mô A Di Đà Phật!!!
Vừa qua con đăng tin việc tu học ở
chùa. Các vị biết con ăn chay ngọ tu 8 món công đức. Nên các vị muốn
hiểu hơn về tu bát quan trai để cùng tu học. Nay con xin chia sẻ đến
chư vị Phật tử ạ.
TU TẬP BÁT QUAN TRAI GIỚI
(Thọ trai Ngọ và tu tám món công đức)
CÁCH THỌ BÁT QUAN TRAI GIỚI
Thọ chay giờ Ngọ là chỉ thọ cơm một lần
trong ngày từ 11 giờ 30 đến 13 giờ 30. Tụng nghi thức Bát quan trai (BQT) giới
sau khi ngủ thức dậy, dùng thân tâm thanh tịnh cúng dường Phật và tụng Kinh.
Nên thức dậy sớm để cúng sớm sẽ tốt. Đối với Phật tử tu 1 ngày hay 2 ngày
hoặc cho đến 7 ngày, hoặc cho đến 1 tháng thì cúng dường Phật lúc 6 giờ
sáng để thọ Bát quan trai giới, đúng 24 giờ là 6 giờ sáng ngày hôm sau thì xả
giới.
Trước khi cúng dường Tam Bảo và xin thọ
BQT giới nên khấn nguyện. Còn đối với con tu BQT cả đời nên không cần xả
giới.
Trong thời gian thọ BQT nên niệm Phật, niệm
Chú hoặc đọc Kinh để thân tâm luôn được thanh tịnh, tránh được chướng nạn. Vì
trong quá trình thọ BQT khiến thiên ma cản trở hoặc do nghiệp lực từ
ác nghiệp chiêu cảm khó thực hành được. Hoặc oan gia không cho tu tập.
Khiến nhiều việc xảy đến làm chướng duyên tu tập. Bát quan trai giới
1 tháng chia ra 1 tuần 1 ngày thôi. Hoặc 1 tháng 1_4 ngày hoặc nhiều
hơn. Trước khi phát tâm tu BQT nên sắp xếp chuyện gia đình, vợ chồng
tránh điều không nên xảy ra trong lúc thọ BQT.
Mượn thân xác này để tu tập các pháp lành
nên đừng chấp vào ăn uống nhiều ít, có sức khỏe, không có sức khỏe, cơ thể ăn
được, không ăn được và chấp vào phước báu thế gian, thì việc ăn chay giờ Ngọ sẽ
mất hiệu quả.
Trong những giờ khác giờ Ngọ 11g30_13g30
chẳng ăn trái thời. Ăn chay ngọ tu BQT là một ngày ăn cơm một lần vào
giờ Ngọ. Và tu 8 món công đức. Tức là: Một, chẳng sát sanh; hai, không
trộm cắp; ba, không làm chuyện tà hạnh; bốn, chẳng nói dối; năm, chẳng uống
rượu; sáu, chẳng ăn trái thời; bảy, chẳng dùng hương, tràng hoa trang sức thân
thể và ca múa vui chơi; tám, chẳng nằm ngồi giường to cao rộng.
Khi ăn chay Ngọ, không ăn nhiều quá, đừng
nghĩ mọi bữa ăn ba bữa mới no, hôm nay ăn một buổi làm sao mà sống; sợ cơ thể
mình không đủ năng lượng nên bắt ép thân xác mình ăn thật nhiều cơm trong lúc
thọ chay, lợi lạc đâu không thấy chỉ thấy khó chịu sau khi ăn. Đó là điều không
nên.
Chay Ngọ là chỉ ăn một lần nên chỉ ăn một
lần và uống nước. Ngoài ra không ăn uống gì khác,... Người ngoài không biết cho
là thọ Trai giới là khổ là hành xác, là một sai lầm, hủy báng Pháp nên gặp nạn
trong Phật pháp, mà bản thân mình cũng mất phần lợi lạc. Thọ Bát quan trai giới
sẽ có một sức khỏe tốt, công đức vô lượng nếu dụng tâm thanh tịnh, không xả ly
Bồ tát đạo.
Người thọ chay ngọ nên ăn cơm trước
14g. Tức 2g chiều. Nếu ăn tối sẽ bị đọa. Thời quá khứ có vị tu bát
quan trai. Vì phạm vào lỗi ăn trái thời (tức ăn cơm phi thời) mà bị
đọa địa ngục. Trải qua nhiều kiếp sau sanh vào kiếp quỷ do tâm ác khi
thọ BQT.
Còn đối với những vị Phật tử đã lập gia
đình rồi nên đối trước bàn thờ Phật khấn nguyện thêm như vầy:
"Con thọ Bát quan trai giới 15 ngày (1
tháng, 2 tháng, 3 tháng…. 1 năm, 2 năm.... hoặc thọ Bát quan trai cả đời) trong
thời gian thọ Bát quan trai xin tu tập gìn giữ tám điều giới cấm tinh sạch (Tức
là: Một, chẳng sát sanh; hai, không trộm cắp; ba, không làm chuyện tà hạnh;
bốn, chẳng nói dối; năm, chẳng uống rượu; sáu, chẳng ăn trái thời; bảy, chẳng
dùng hương, tràng hoa trang sức thân thể và ca múa vui chơi; tám, chẳng nằm
ngồi giường to cao rộng). Nhiếp tâm thọ trì Kinh điển, niệm Phật, Bồ tát, niệm
Chú, tịnh tâm quán tưởng công đức của chư Phật mười phương và quán tưởng đến
chúng sanh trong sáu đường, còn đang ngụp lặn nơi đường sanh tử mà không có
những lời nói, hành động sái quấy. Giới cấm dâm dục, con là người đã lập gia
đình nên trong thời gian dài như thế không thể nồng ấm".
NGHI THỨC
THỌ BÁT QUAN TRAI GIỚI
Quy mạng hết thảy Phật, kính xin hết thảy
Phật và Bồ tát chúng, nhiếp thọ con (1 lần, 1 lạy)
Con nay quy mạng thắng Bồ đề,
Phật, Pháp, Tăng thanh tịnh tối thượng.
Con phát tâm Bồ đề rộng lớn,
Tùy hỷ vô biên các khối phước,
Trước hết là không ăn quá Ngọ, rồi mới tu
tám pháp trưởng dưỡng. Con từ lúc này, phát tâm tịnh tín, cho đến khi ngồi nơi
Bồ đề đạo tràng, thành Đẳng Chánh giác.
Thề quy y Phật, Lưỡng Túc Thắng tôn.
Thề quy y Pháp, Ly Dục Thắng tôn.
Thề quy y Tăng, Điều Phục Thắng tôn.
Tam Bảo là như thế là chỗ hướng về (3 lần,
3 lạy).
Đệ tử con tên là ..... tịnh tín ưu bà tắc
(ưu bà di), kính mong A Xà Lê nghĩ nhớ, hộ niệm. Con từ giờ này trong ngày hôm
nay, phát khởi tịnh tâm, cho đến hết đêm nay cho đến lúc ngày mai lúc mặt trời
vừa mọc, trong thời gian ấy vâng giữ tám giới. Tức là: Một, chẳng sát sanh;
hai, không trộm cắp; ba, không làm chuyện tà hạnh; bốn, chẳng nói dối; năm,
chẳng uống rượu; sáu, chẳng ăn trái thời; bảy, chẳng dùng hương, tràng hoa
trang sức thân thể và ca múa vui chơi; tám, chẳng nằm ngồi giường to cao rộng.
Con nay lìa bỏ những chuyện như vậy, thệ nguyện chẳng bỏ giới cấm thanh tịnh
tám món công đức (3 lần, 3 lạy).
Hồi hướng:
Con trì giới hạnh, trang nghiêm cái tâm,
khiến tâm vui sướng, rộng tu hết thảy các hạnh thù thắng tương ứng, cầu thành
Phật quả, rốt ráo viên mãn (1 lần, 1 lạy).
Con phát tâm vô thượng không hai,
Làm bạn chẳng thỉnh của chúng sanh,
Khéo hành hạnh Bồ đề thù thắng,
Thành Phật rộng lợi ích thế gian,
Nguyện con nương nhờ thiện nghiệp này,
Thành Phật chẳng lâu trong đời này,
Thuyết pháp lợi ích cả thế gian,
Giải thoát chúng sanh khổ ba cõi. (3 lần, 3
lạy).
Tu BQT Chân thật. Công đức vô lượng. Chư
Phật Bồ tát gia hộ được sức khoẻ tốt không bệnh tật và các tai nạn
bất ngờ cũng không xảy đến. Các khổ não lớn cũng lần lần tiêu
sạch. Người thân gia đình từ từ được cảm hoá tu tập căn lành theo
mình. Người tu BQT chân thật sau 1 thời gian sanh hảo tướng. Ai nhìn
cũng thấy khác lạ ái kính.
Người tu BQT mà tâm còn tật đố sân
hận oán cừu, tâm còn tranh đấu hơn thua, không biết mở rộng tâm mình
ra để lợi lạc cho người khác. Tài vật giữ khư khư bên mình không biết
chia sẻ cho ai. Tâm cống cao ngã mạn khinh khi ông bà cha mẹ anh em,
chửi mắng vợ (chồng) con cái, người xung quanh. Người như thế sau khi
tu BQT không được hiện hảo tướng. Người nhìn cảm giác muốn xa lánh.
Không sanh tướng uy nghiêm. Khiến người xunh quanh không noi theo hạnh
lành này được. Vô tình khiến người thân người xung quanh gây khẩu
nghiệp vì mình. Nghiệp quá khứ chưa trừ. Nghiệp hiện tại gây thêm. Ở
vị lai mất nhiều lợi lạc cho mình và người thân. Khi bỏ thân này.
Không có công đức để nương tựa. Khó tránh sanh vào lục đạo lãnh
nghiệp mình gây tạo.
Đôi lời con xin chia sẻ về Tu BQT.
Nguyện bài đăng được truyền tải nơi nơi để nơi nơi ai ai cũng được tu
hành theo lời Đức Phật dạy.
Nam mô Cầu chứng minh sư Bồ tát tát
đại chứng minh.
---------------------
MƯỜI CÔNG ĐỨC NIỆM PHẬT
Trong kinh nói: Người nào chí tâm niệm
Phật, được mười món công đức như sau:
1. Thường được chư Phật ngày đêm hộ niệm,
Đức Phật A Di Đà phóng quang nhiếp thọ.
2. Thường được 25 vị Đại Bồ Tát như Đức
Quán Thế Âm thủ hộ.
3. Ngày đêm thường được chư Thiên cùng Đại
lực Thần tướng ẩn mình ủng hộ.
4. Tất cả Dạ xoa, ác quỉ, rắn độc, thuốc
độc đều không thể làm hại.
5. Không bị những tai nạn: nước, lửa, đao,
tên, gông, xiềng, lao ngục, giặc cướp, oan gia, cùng các thứ chết dữ.
6. Những tội đã làm thảy đều tiêu diệt,
những kẻ chết oan vì mình đều được giải thoát, không còn kết oán ràng buộc.
7. Ban đêm nằm ngủ thường thấy điềm lành,
hoặc thấy sắc thân thắng diệu của Phật A Di Đà.
8. Tâm thường vui vẻ, sắc thường tươi
nhuận, khí lực đầy đủ, việc làm có kết quả tốt đẹp lợi ích.
9. Mọi người trông thấy đều vui mừng, cung
kính hoặc lễ bái cũng như kính Phật.
10. Khi mạng chung tâm không sợ hãi, chánh
niệm hiện ra, được Tây Phương Tam Thánh tiếp dẫn sanh về Tịnh Độ hưởng sự an
vui không cùng.
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
---------------------
PHẢI NỔ LỰC TIÊU TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG !!..
NHẤT ĐỊNH KHÔNG KẾT OÁN VỚI NGƯỜI !!..
PHẢI HỌC BẤT CỨ Ở ĐÂU CŨNG PHẢI CHỊU THIỆT
THÒI !!..
CHỊU THIỆT THÒI LÀ CÓ PHƯỚC !!..
CHỊU THIỆT THÒI THÌ BẠN MỚI TIÊU TRỪ ĐƯỢC
NGHIỆP CHƯỚNG !!..
KHÔNG CHỊU THIỆT THÒI THÌ NGHIỆP CHƯỚNG
KHÔNG TIÊU ĐƯỢC !!..
NẾU NHƯ CÒN MUỐN CHIẾM LỢI VỀ MÌNH THÌ BẠN
LÀM TĂNG TRƯỞNG THÊM NGHIỆP CHƯỚNG !!..
Khi lâm chung có một điều kiện quan trọng,
là đầu óc sáng suốt, nếu đầu óc không sáng suốt thì bó tay thôi, cho nên người
già bị bệnh mất trí thì không có cách nào đâu.
Suốt đời niệm Phật niệm đến cuối đời bị
tình cảnh này, thì không thể nắm chắc được vãng sanh.
Người già bị bệnh mất trí trong đạo Phật
nói đó là oan thân trái chủ, là nghiệp chướng. Cho nên học Phật không thể không
biết một số chân tướng sự thật này.
Chúng ta còn sống một ngày, không nói đến
năm, sống một ngày phải biết nỗ lực tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu trừ từng ngày
nghiệp chướng, nhất định không kết oán thù với người. Phải học được ở đâu cũng
chịu thiệt thòi, chịu thiệt thòi là có phước, chịu thiệt thòi thì bạn mới tiêu
trừ được nghiệp chướng, không chịu thiệt thòi thì nghiệp chướng không tiêu
được.
Nếu như còn muốn chiếm một chút về mình,
thì mỗi ngày bạn làm tăng trưởng nghiệp chướng, như thế hoàn toàn sai rồi. Ở
thế gian này, tuy bạn được cả thế giới thì có nghĩa gì chứ, tạo tội nghiệp bao
lớn.
Cho nên chúng ta hiểu rõ chân tướng sự thật
của thế gian này, dù bạn có được cả thế giới này, thì bạn hưởng được phước mấy
năm đây? Bạn đã tạo tội nghiệp nặng cỡ nào! Sau khi chết chắc chắn đọa vào địa
ngục A Tỳ.
Cho nên hiểu được chân tướng sự thật về
nhân quả, thì bạn sẽ không khởi lên tâm niệm như vậy, tâm niệm này là tâm niệm
bất thiện.
Thật sự có duyên, có phước báo lớn gặp được
Phật pháp, nguyện vọng lớn nhất khi gặp được Phật pháp, đời này làm Phật, bạn
mới thật sự giải quyết được vấn đề.
HT TỊNH KHÔNG
XIN THƯỜNG NIỆM PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
XIN GIỮ TÂM THIỆN
THẾ GIỚI HOÀ BÌNH
TIÊU TAI DỊCH BỆNH
PHẬT PHÁP VÔ BIÊN
HOAN NGHÊNH PHỔ BIẾN
CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG
---------------------
VÌ SAO CHÚNG TA BỊ BỆNH? BÀI VIẾT NÀY
PHẢI NHỮNG NGƯỜI CÓ THIỆN CĂN PHƯỚC ĐỨC THẬT SỰ VÀ CÓ TÂM TỪ BI LỚN MỚI CÓ TRÍ
TUỆ LĨNH NGỘ ĐƯỢC
Đa số người mắc bệnh đều do lỗi sát
sinh, ăn thịt… mà chiêu cảm lấy bệnh hoạn hành thân. Do thân xác loài
vật bị người giết ăn, thần thức (tức linh hồn) chúng không còn chỗ
nương, vì muốn báo oán nên chúng gá dựa vào thân xác kẻ thù hoặc
sống vất vưởng tại lò giết mổ…
Nếu người ăn thịt động vật ngày càng
nhiều, tùy theo phúc đức họ mạnh yếu mà thần thức con vật sẽ đeo
bám, gá trên thân họ nhiều hay ít. Thông thường thì chúng bám ngày
càng đông, năng lượng xấu này tích tụ mỗi ngày một lớn, hình thành
ổ bệnh, dần dần khiến người tạo ác nghiệp (sát sinh, ăn thịt) cảm
thấy bộ phận hay cơ quan nào đó trên thân mình đang cực kỳ khó chịu,
đau đớn…
Lúc này tất nhiên bệnh nhân cần phải
đi chữa trị.
Nếu trị lành thì đó là nhờ phúc
báo đời trước bệnh nhân từng tích lũy được vẫn còn.
Nếu như ác nghiệp họ tạo đời này
lớn hơn phúc báo hiện có, thì bệnh nhân phải tiêu tốn rất nhiều
tiền, và ôm lấy vô vàn nỗi thống khổ vì đang bị oan gia trái chủ đeo
theo báo thù, tính sổ.
Nhưng do bệnh nhân không hiểu Phật
pháp, nên khi mắc bệnh, họ lại vội vàng tiếp tục dùng thịt động
vật để tẩm bổ thêm cho xác thân, nào biết rằng bản thân đang tạo thêm
oan trái chất chồng.
Việc uống thuốc, tiêm chích, phẫu
thuật v.v... chỉ là giải quyết sự thống khổ tạm thời, sau đó sẽ có
nhiều bệnh bộc phát tiếp theo, khiến cho người bệnh cảm thấy thuốc
men trở nên không còn hiệu quả.
Quý vị phải hiểu rằng, những oan gia
trái chủ của quý vị, một khi hồn lìa khỏi xác và chuyển sang cảnh
giới “sống bằng thần thức” thì chúng đều có “tha tâm thông”. Quý vị
nghĩ gì, lo gì chúng đều biết cả.
Nếu như Quý vị biết thành tâm sám
hối và dừng sát nghiệp (ăn chay, phóng sanh), lại còn đem công đức
niệm Phật, tụng kinh… hồi hướng cầu siêu cho những chúng sanh mà quý
vị từng ăn thịt, giết hại thì tôi đảm bảo với Quý vị “Chỉ cần quý
vị hễ nhận ra lỗi là sửa liền, chịu tu tỉnh ăn năn mà hướng thiện,
nhất định sẽ thấy hiệu quả vi diệu ngay”.
Nam Mô A Di Đà Phật .
Cư sĩ Quả Khanh
(Trích từ quyển Nhân Quả Phụ Giải
Lương Hoàng Sám)
---------------------
SÁM HỐI NĂM TỘI
Trước Phật đài con xin sám hối
Xét lại mình tội lỗi từ xưa
Hoặc là nhiều kiếp dây dưa
Chập chùng nghiệp quấy có thừa núi cao.
Thân con đựng chứa biết bao tật xấu
Bước chân đi theo dấu đường đời
Cách ăn thói ở tùy thời
Nào con có tránh khỏi nơi tội tình
Tội thứ nhất: Sát sinh thực nhục
Thuở bé thơ đến lúc trưởng thành
Vì con cha mẹ cam đành
Giết loài muôn thú nuôi thân mạng này.
Con cũng có tự gây lấy nghiệp
Cùng bao nhiêu người gián tiếp trợ duyên
Thức ăn bán ở thị thiềng
Sát sinh tội bởi đồng tiền trao tay.
Thân con lỡ tạo vay nghiệp ác
Muôn vạn loài oan thác vì con
Ví như thây ướp hằng còn
Từ xưa chất để như hòn núi cao.
Tính một kiếp dồn bao nhiêu kiếp
Thân con đây tội nghiệp dẫy đầy
Xét ra thì thịt xương này
Lại là xương thịt muôn thây tạo thành
Cũng có lúc lòng lành bất nhẫn
Nghe tiếng kêu hối hận giật mình
Máu me tràn ràn rụa thân hình
Mắt trong thảm cảnh động tình xót xa.
Con nguyện hứa thứ tha tất cả
Lòng dặn lòng cải hóa tự tâm
Học đòi theo bậc triết nhân
Tạm dùng hoa trái nuôi thân qua ngày.
Nhưng trong cõi trần ai bụi bặm
Giữ làm sao khỏi lắm tấc son
Biết bao nghiệp sát cỏn con
Nhiều lần vô ý dập dồn tội khiên.
Nay đến trước Phật tiền sám hối
Lượng từ bi xả tội lỗi lầm
Ăn năn gội rửa lòng phàm
Con nguyện sửa đổi việc làm từ nay
Tội thứ hai: Tham tài trộm đạo
Thói vậy tà gian xảo xấu xa
Hoặc từ nhiều kiếp trải qua
Hoặc từ thơ bé tạo ra tội tình
Nhìn lại tấm thân hình trưởng đại
Hẳn có khi tội trái lôi thôi
Của người nhọc đổ mồ hôi
Dùng mưu chước lấy đắp bồi thân ta.
Tội thứ ba: Dâm tà loạn phép
Lỗi đạo hằng mang nghiệp vào thân
Tấm lòng yễm cựu nghinh tân
Làm sao tránh khỏi xoay vần trái oan.
Đường tình ái đã chan chan tội
Nẻo dâm tà càng lỗi nặng lung
Tấm thân tội lỗi thẹn thùng
Kiếp này, kiếp khác chập chùng bằng non.
Tội thứ tư: Vọng ngôn dối trá
Lợi cho mình thiên hạ hại thân
Vẽ duyên thêu dệt xa gần
Muôn điều rối rắm, trăm phần đảo điên!
Thói lưỡng thiệt hai bên đâm thọc
Cho đôi đàng trách móc lẫn nhau
Mở lời để lại về sau
Một câu thất đức họa sâu không ngừa.
Tội thứ năm: Say sưa chè rượu
Lỗi giới điều do tửu nhập tâm
Thêm lòng ham muốn tham lam
Càng thêm chất chứa càng làm mê say.
Bệnh sân hận con nào chịu sửa
Nổi nóng lên như lửa cháy rừng
Mê si đâu biết tỏ tường
Cõi mơ muôn vạn nẻo đường nhá nhem.
Năm giới chánh cộng thêm giới phụ
Tam nghiệp chung tính đủ thập điều
Phật ban giới cấm đã nhiều
Mà con lỗi phép không theo luật Ngài.
Hoặc vô ý không hay tội trượng
Hoặc yếu hèn chẳng cưỡng được tâm
Tự làm hoặc xúi người làm
Hoặc nghe thấy ác lòng phàm đua vui.
Từ vô thỉ tạo rồi nghiệp chướng
Đến những nay vô lượng kiếp sinh
Mỗi phen mang lấy thân hình
Tạo gây lắm thứ tội tình nghiệp duyên
Nay lòng thành con nguyền sám hối
Xét tội xưa tránh lỗi về sau
Cầu xin nước tịnh rước vào
Tâm con được sạch làu làu hôm nay.
Con cố gắng từ đây sắp tới
Giữ đúng theo ngũ giới Phật truyền
Cần trau tam nghiệp trọn hiền
Pháp tu Thanh tịnh vẹn tuyền mới cam.
Mong đến chốn già lam Phật cảnh
Giã cõi đời ảo ảnh phù du
Con về con học phép tu
Làm dân đất Phật thiên thu sống còn
Đường giải thoát lòng con chí dốc
Quyết phăng tìm theo gốc tu chơn
Nương về Tam Bảo là hơn
Con nguyện chẳng dám khinh lờn dể ngươi.
Được thưởng thức chút mùi vị đạo
Xin nhớ ơn Tam Bảo ghi lòng
Con nay sám hối vừa xong
Nghiệp trần con phủi đã xong sạch rồi.
Con cầu nguyện người đời tỉnh thức
Nhận đạo Thiền hết sức bình an
Cầu xin Phật hiện thế gian
Cầu xin Tam Bảo giúp an muôn loài.
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát
---------------------
Đêm canh ba Ông về báo mộng
Bào vàng thêu rồng lộng gió tung bay
Mắt phượng mày ngài Ông cười nói
"Vui hay buồn về những chuyện đã
qua"
Trò rưng rưng nhìn Ông trò nói
"Sao phận trò tủi vậy Ông ơi
Khuya sớm không ngơi luôn phải nghĩ
Tò mò tỉ mỉ từng bước đi
Phận là lính gian khổ đã thì
Trong cuộc sống gian truân vất vả
Người nhìn vào bằng đôi mắt khiếm nhã
Song hành đó là cãi vã thị phi
Gia đình lục đục chồng con thì
Như cùng đường như không lối thoát"
Ông cười hiền lại gần bảo nhỏ
"Mệnh của trò định sẵn rồi trò ơi
Lính Tứ Phủ trải bươn trải sự đời
Trò có thấu mới là người có ích
Thương trò buồn nay ta về tâm tình
Tiếp chút sức trên trò đường trò đi
Tu tâm tích đức không khi khinh
Công quả tích phước mấy khi thành
người"
Đêm canh ba giật mình tỉnh giấc
Cơn gió nhẹ tiễn bóng Hoàng đi
Tâm con trẻ cởi nút thắt lạ kì
Trong tâm trí niệm a Di Đà Phật
---------------------
20 ĐIỀU LỜI PHẬT VÀ TỔ DẠY :
1. Chúng ta có mặt ở trên thế gian này chỉ
là để TÌM VỀ CỘI NGUỒN CỦA SANH MẠNG
2. Bậc được xưng là sống có trí tuệ.
tuyệt nhiên không sợ sống chết. Sắc thân này rồi sẽ tan rã những
tiếng pháp âm của ta, kinh điển ta đã giảng sẽ mãi mãi lấp lánh
trong tâm các con.
3. Dùng tâm bình thường để đối mặt
với những sự việc không bình thường.
4. Môi trường luôn là tấm gương cho
chúng nhìn thấy được bản thân mình.
5. Vui hay buồn, hiện tượng tuy khác
nhau, nhưng đều là hai mặt của một bản thể.
6. Với người trí, Phiền não chính là
một loại Trí tuệ giúp cho ta Giác Ngộ được chính mình.
7. Gặp chuyện không như ý, luôn biết
phản tỉnh chính mình, luôn nhìn thấy mình, đừng nhìn thấy ai khác.
Nghĩa là luôn nhìn thấy trạng thái tâm của mình để BUÔNG..
8. Lục Tổ dạy : Luôn nhìn thấy lỗi
mình, đừng thấy lỗi người. Người lỗi ta không lỗi. Ta lỗi bởi chê bai
9. "Buông xã" không có nghĩa,
không đồng nghĩa với "Buông bỏ". "Buông xã" là không
nghĩ đến quá khứ, không nghĩ đến vị lai. Tâm không chấp trước.
"Buông bỏ" là cái gì cũng không tin, mất hết tự tin và can
đảm.
10. Phật dạy Có 3 điều bạn cần phải biết
: 1. bạn có yêu chân thành không ? 2. Bạn có sống hết mình chưa ? 3.
Bạn có biết Buông hay không ?.
11. Khi thân có bệnh , thân bệnh chứ
đừng để tâm bệnh, lấy Tâm sai khiến Vật, chứ đừng để Vật sai khiến
Tâm. Hãy xem bệnh như một sự trãi nghiệm.
12. Bệnh không khổ, nghèo không khổ,
lao động không khổ, Tâm khổ mới thật sự là khổ.
13. Môi trường thiên nhiên không tránh
khỏi không như ý, công việc không tránh khỏi không trở ngại. Trước mọi
việc chỉ cần Tâm an, thì mọi việc sẽ an.
14. Bất luận môi trường bên ngoài ra
sao. nội tâm luôn vững trãi, bình tỉnh đối mặt, có định lực sẽ làm
chủ được bản thân mình, không để tâm mình chạy theo cảnh.
15. Những lời chống đối, cản trở
không đáng sợ. Chỉ cần trực diện, bao dung âu cũng là trợ lực giúp
ta trưởng thành. Trưởng thành từ trong nội tâm qua những lần đau khổ.
16. Giải thoát là quá trình chuyển hóa
nội tâm của mình. là quá trình mở những mối gút mà ta đã tự cột
nó vào chính bản thân ta.
17. Muốn sống hài hòa với môi trường
bên ngoài, trước hết phải sống hòa bình với nội tâm của chính mình.
TÂM BÌNH THẾ GIỚI BÌNH
18. Khẳng định chính mình, nhưng không
chấp trước đối với bất cứ luận điểm nào. Đó là thái độ Vô ngã.
19. Thế gian này không dừng chân cho sự
đau khổ, mà thế gian này dành riêng cho những Bậc Giác Ngộ, nhưng Bậc
Giác Ngộ phải luôn biết thức tỉnh.
20. Đêm dài thăm thẳm đối với kẻ mất
ngũ. Đường dài xa xăm đối với kẻ mỏi chân. Con người thì sẽ luôn đau
khổ khi sống trong sự lầm mê, không biết Chánh Pháp Giác Ngộ Giải
Thoát là gì ?.
ST
----------------------
---------------------
KINH 100 DANH HIỆU CỦA CHƯ PHẬT.
TÔI NGHE NHƯ VẦY:
Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô
Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức, cùng với các vị đại Bhikṣu
[bíc su], Bhikṣuṇī [bíc su ni], Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, chư đại Bồ-tát,
chư đại thiên, Năng Thiên Đế, Đại Phạm Thiên Vương, Tứ Đại Thiên Vương, trời,
rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng
xà, người và phi nhân. Khi ấy có vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh ở trước
sau của Đức Phật, họ cung kính cúng dường và tôn trọng tán thán.
Lúc bấy giờ Thế Tôn tuyên thuyết diệu Pháp
cho các đại chúng.
❖
Khi đó Tôn giả Thu Lộ Tử liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, sửa sang y phục, gối phải quỳ sát đất, chắp mười đầu ngón tay và thưa
với Phật rằng:
"Kính mong Thế Tôn hãy diễn nói các
danh hiệu của chư Phật hiện tại ở các thế giới trong mười phương.
Vì sao thế? Bởi nếu có thiện nam tử hoặc
thiện nữ nhân nào nghe được các danh hiệu của chư Phật hiện tại này, thì sẽ
khiến họ sanh đại công đức, khiến họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,
được không thoái chuyển, và cũng như sẽ khiến họ mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác."
Khi ấy Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Lành thay, lành thay!
- Ông nay vì muốn làm lợi ích an lạc cho
các đại chúng,
- vì muốn thương xót bảo hộ các chúng sanh,
- vì muốn khiến điều cầu mong của các chúng
sanh được mãn nguyện,
- vì muốn khiến tất cả sanh tâm hoan hỷ,
- và cũng vì muốn tăng trưởng thiện căn cho
chư Bồ-tát ở đời vị lai.
Lành thay, lành thay! Ông nay sanh thiện
giác quán nên mới có thể hỏi như vậy. Ai có thể hỏi như thế, thì phải biết, đó
đều là do sức uy thần của Như Lai.
Này Thu Lộ Tử! Ông nay hãy lắng nghe! Nếu
có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào nghe được các danh hiệu của chư Phật
hiện tại này, thì sẽ khiến hết thảy chúng ma đều chẳng thể thừa cơ trục lợi ở
tại nơi họ ở; tất cả những kẻ ác cũng chẳng thể thừa cơ trục lợi. Người thọ trì
sẽ được vô lượng vô biên công đức thâm sâu, tùy nơi sanh đến, đầy đủ hạnh
Bồ-tát, đắc Túc Mạng Thông, dung nhan đoan chánh, và các tướng hoàn chỉnh. Họ
sẽ luôn được thân cận để cúng dường chư Phật, và cho đến mau thành Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác.
Vì sao thế, Thu Lộ Tử? Bởi nếu có ai nghe
được các danh hiệu của chư Phật này, rồi thọ trì đọc tụng, cung kính lễ bái,
biên chép cúng dường, và triển chuyển dạy bảo cho người khác, thì công đức có
được sẽ là vô lượng vô biên."
❖
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:
"Nếu trì danh hiệu chư Phật này
Người ấy chẳng bị đao tổn thương
Độc không thể hại lửa chẳng thiêu
Cũng sẽ chẳng rơi vào tám nạn
Thấy được đại trí kim sắc quang
Ba hai tướng hảo chư Pháp Vương
Khi đã diện kiến chư Phật rồi
Cúng dường vô lượng chư Phật kia
Mắt họ chẳng mù không đỏ vàng
Thân chẳng gù cong không một mắt
Được thân đại lực rất kiên cố
Thọ trì Phật danh báo như vậy
Luôn được trời rồng quỷ tiệp tật
Với tầm hương thần đến cúng dường
Oan gia kẻ ác chẳng thể hại
Thọ trì Phật danh báo như vậy
Ông nay lắng nghe Thu Lộ Tử
Như lời vi diệu của Ta nói
Nếu ai nghe được Phật danh này
Tức là gần kề nơi Phật Đạo
Bởi thế ông nay chí tâm nghe
Mười phương thế giới đại Pháp Vương
Khéo nhổ chúng sanh gai phiền não
Ví như cây thuốc trừ ách bệnh
Ngu si mù lòa các phàm phu
Thí mắt trí tuệ của Bồ-tát
Lại như Hành Thí Thắng Bồ-tát
Vô lượng ngàn ức Hằng sa giới
Trong đó đầy khắp vàng Diêm-phù
Ngày đêm sáu thời chưa thôi nghỉ
Ban thí đại bi đại đạo sư
Lại dùng hương đàn đầy trăm cõi
Phan lọng y phục như Hằng sa
Vô lượng ngàn vạn trong ức kiếp
Nhất tâm mà lấy dùng bố thí
Lại như ở trong một cõi Phật
Khởi xây đầy khắp các tháp Phật
Ở trong mười kiếp mà cúng dường
Chư Phật nhiều như cát sông Hằng
Lại tạo tháp cao như Diệu Cao
Tháp đó làm bằng toàn bảy báu
Đầy khắp như vậy mười ngàn cõi
Số ấy có đến ba sáu ức
Lấy hương đàn đỏ cùng trân châu
Tạo làm lọng che vật cúng dường
Với mỗi lọng che có thể trùm
Hàng trăm thế giới chư Phật quốc
Trân châu anh lạc dùng trang nghiêm
Số đó nhiều như cát sông Hằng
Trên không lại tạo lọng che vàng
Số đó nhiều như cát sông Hằng
Sắc màu vàng tím như pho tượng
Mỗi lọng chiếu khắp Tam Thiên Giới
Ở trong mỗi tháp làm cúng dường
Vô lượng vô biên vô số kiếp
Làm các công đức như ở trên
Thì vẫn không bằng khởi Đạo tâm
Phát khởi Đạo tâm như thế đấy
Giữ giới thanh tịnh chẳng buông lung
Đâu bằng ai trì Phật danh này
Trì Phật danh này như vậy đó
Lại khéo thương xót các chúng sanh
Ở tại mọi nơi rộng lưu truyền
Dạy người thọ trì Phật danh hiệu
Ở trong tất cả các chúng sanh
Họ làm phước điền giống Như Lai"
❖
Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Nếu có ai nhất tâm thọ trì, đọc tụng,
và nhớ niệm chẳng quên các danh hiệu của chư Phật này, thì tham dục, sân hận,
si mê, và các điều sợ hãi của họ sẽ lập tức được diệt trừ. Còn những ai chưa
sanh khởi tham dục, sân hận, si mê, và các điều sợ hãi thì sẽ khiến chúng chẳng
phát sanh."
Khi ấy Thế Tôn liền nói chư Phật danh hiệu:
"♪ Quy mạng Nguyệt Quang Phật
♪ Quy mạng Bất Động Phật
♪ Quy mạng Đại Trang Nghiêm Phật
♪ Quy mạng Mộc Hương Phật
♪ Quy mạng Thường Chiếu Diệu Phật
♪ Quy mạng Đàn Hương Đức Phật
♪ Quy mạng Tối Thượng Phật
♪ Quy mạng Liên Hoa Tràng Phật
♪ Quy mạng Liên Hoa Sanh Phật
♪ Quy mạng Bảo Tụ Phật
♪ Quy mạng Mật Hương Thụ Phật
♪ Quy mạng Đại Tinh Tấn Phật
♪ Quy mạng Đàn Hương Đức Phật
♪ Quy mạng Hải Phật
♪ Quy mạng Cự Hải Phật
♪ Quy mạng Tràng Đức Phật
♪ Quy mạng Tịnh Đức Phật
♪ Quy mạng Đại Hương Phật
♪ Quy mạng Đại Sanh Phật
♪ Quy mạng Bảo Võng Phật
♪ Quy mạng Vô Lượng Thọ Phật
♪ Quy mạng Đại Thí Đức Phật
♪ Quy mạng Đại Kim Trụ Phật
♪ Quy mạng Đại Niệm Phật
♪ Quy mạng Ngôn Vô Tận Phật
♪ Quy mạng Thường Tán Hoa Phật
♪ Quy mạng Đại Ái Phật
♪ Quy mạng Sư Tử Hương Thắng Phật
♪ Quy mạng Dưỡng Đức Phật
♪ Quy mạng Đế Chủ Hỏa Diễm Phật
♪ Quy mạng Thường Nhạo Đức Phật
♪ Quy mạng Sư Tử Hoa Đức Phật
♪ Quy mạng Tịch Diệt Tràng Phật
♪ Quy mạng Giới Vương Phật
♪ Quy mạng Phổ Đức Phật
♪ Quy mạng Phổ Đức Tượng Phật
♪ Quy mạng Vô Ưu Đức Phật
♪ Quy mạng Thanh Liên Hương Phật
♪ Quy mạng Đại Địa Phật
♪ Quy mạng Đại Long Đức Phật
♪ Quy mạng Thanh Tịnh Vương Phật
♪ Quy mạng Quảng Niệm Phật
♪ Quy mạng Liên Hoa Đức Phật
♪ Quy mạng Xả Hoa Phật
♪ Quy mạng Long Đức Phật
♪ Quy mạng Hoa Tụ Phật
♪ Quy mạng Hương Tượng Phật
♪ Quy mạng Thường Quán Phật
♪ Quy mạng Chánh Tác Phật
♪ Quy mạng Thiện Trụ Phật
♪ Quy mạng Tung Quảng Vương Phật
♪ Quy mạng Vô Thượng Vương Phật
♪ Quy mạng Nguyệt Đức Phật
♪ Quy mạng Đàn Hương Lâm Phật
♪ Quy mạng Nhật Tạng Phật
♪ Quy mạng Đức Tạng Phật
♪ Quy mạng Diệu Cao Lực Phật
♪ Quy mạng Bảo Tạng Phật
♪ Quy mạng Kim Cang Vương Phật
♪ Quy mạng Uy Đức Phật
♪ Quy mạng Vô Hoại Phật
♪ Quy mạng Thiện Kiến Phật
♪ Quy mạng Tinh Tấn Đức Phật
♪ Quy mạng Đại Hải Phật
♪ Quy mạng Phú Kiên Cố Thụ Phật
♪ Quy mạng Bạt-tha Đức Phật
♪ Quy mạng Phật Thiên Phật
♪ Quy mạng Sư Tử Tràng Phật
♪ Quy mạng Tỳ-đầu Đức Phật
♪ Quy mạng Vô Biên Đức Phật
♪ Quy mạng Đức Trí Phật
♪ Quy mạng Hậu Đức Phật
♪ Quy mạng Hoa Tràng Phật
♪ Quy mạng Tượng Đức Phật
♪ Quy mạng Tinh Tấn Đức Phật
♪ Quy mạng Long Đức Phật
♪ Quy mạng Đức Sanh Phật
♪ Quy mạng Bảo Tụ Phật
♪ Quy mạng Đức Bà-tha Tử Phật
♪ Quy mạng Luận Nghĩa Phật
♪ Quy mạng Phổ Kiến Phật
♪ Quy mạng Bảo Nhãn Phật
♪ Quy mạng Phổ Xả Phật
♪ Quy mạng Đại Cúng Dường Đức Phật
♪ Quy mạng Đại Võng Phật
♪ Quy mạng Đoạn Nhất Thiết Chúng Sanh Nghi
Vương Phật
♪ Quy mạng Bảo Đức Phật
♪ Quy mạng Phổ Cái Phật
♪ Quy mạng Đại Cái Phật
♪ Quy mạng Thắng Đức Phật
♪ Quy mạng Thiên Cúng Dường Phật
♪ Quy mạng Bảo Liên Hoa Phấn Tấn Phật
♪ Quy mạng Hậu Đức Phật
♪ Quy mạng Trí Tràng Phật
♪ Quy mạng Bảo Nguyệt Đức Phật
♪ Quy mạng Tung Quảng Bà-tha Vương Phật
♪ Quy mạng Thường Đức Phật
♪ Quy mạng Phổ Liên Hoa Phật
♪ Quy mạng Bình Đẳng Đức Phật
♪ Quy mạng Long Hộ Cứu Tế Phật
❖
Danh hiệu chư Phật này
Khéo cứu hộ thế gian
Đầu đêm tụng một lần
Nhớ niệm Phật rồi ngủ
Giữa đêm tụng một lần
Cuối đêm cũng như vậy
Ở ba thời như thế
Đầu đêm giữa và cuối
Mỗi thời tụng một lần
Tinh tấn chớ buông lung
Do tụng Phật danh này
Luôn thấy được mộng lành
Ác quỷ với ác nhân
Chẳng thể nào trục lợi
Cho nên Phật danh này
Khéo cứu hộ thế gian
Tất cả thiên nhạc thần
Úng hình, quỷ tiệp tật
Quỷ thần, quỷ bạo ác
Chẳng thể gây chướng ngại
Một trăm Phật danh này
Luôn hộ niệm người trì
Hết thảy các ma sự
Chẳng thể nào trục lợi"
❖
Lúc bấy giờ Năng Thiên Đế--vua của 33 cõi
trời--sửa sang y phục, hai gối quỳ, chắp tay, và bạch Phật rằng:
"Bạch Thế Tôn! Chúng con sẽ luôn hộ vệ
cho người thọ trì các danh hiệu của chư Phật. Ngoài ra còn có Tứ Đại Thiên
Vương cũng luôn bảo hộ người đó. Người thọ trì các danh hiệu của chư Phật--duy
trừ quyết định nghiệp thì chẳng thể cứu hộ--còn hết thảy trong hàng trời người
thì không ai có thể gây tạo việc ác cho họ được."
Lúc bấy giờ bậc Nhất Thiết Trí phát ra âm
thanh lớn vi diệu, tám loại tiếng hòa nhã, chân thiện, và mỹ diệu, khiến ai nấy
đều thích nghe.
Sau đó, Ngài bảo toàn thể các đại chúng
rằng:
"Hãy mau thọ trì các danh hiệu của chư
Phật này, rồi ở khắp các thế giới trong mười phương mà rộng lưu truyền để làm
đại Pháp thí và đoạn trừ hoài nghi cho chúng sanh."
❖
Khi Đại Thánh Năng Nhân Tịch Tĩnh diễn nói
Pháp này xong, có 300 vị Bhikṣu được lậu tận ý giải.
Lại có 40 vị Bhikṣuṇī được tận trừ tất cả
lậu pháp và đắc Đạo Ứng Chân.
Lại có 5.000 Thanh Tín Nam trụ thắng hoan hỷ
tâm và chứng Quả Nhập Lưu.
Lại có 1.100 Thanh Tín Nữ đều xa rời trần
cấu và đắc Pháp nhãn thanh tịnh.
Lại có các đại thiên vương cùng vô lượng
ngàn vạn thiên chứng đắc Pháp nhãn thanh tịnh ở trong Pháp của bậc Pháp Vương.
Ví như có bao nhiêu số cát của một sông
Hằng, hãy chia làm ba phần. Số lượng của chư Bồ-tát chứng Vô Sanh Nhẫn thì bằng
một phần của số đó.
Lúc bấy giờ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới
đều chấn động sáu cách. Các núi non, cao phong, và đại địa thảy đều rung
chuyển. Còn ở trong hư không mưa xuống các loại hoa vi diệu cõi trời. Tiếng vui
vẻ của trời, rồng, và hàng phi nhân đều vang dội khắp nơi.
❖
Khi ấy Năng Thiên Đế, Tôn giả Đại Thải Thúc
Thị, Tôn giả Thất Tú, Tôn giả Tiểu Lộ, Tôn giả Phòng Tú, Tôn giả Đại Tiễn Thế
Chủng Nam, Tôn giả Đại Ẩm Quang, Tôn giả Mộc Qua Lâm Ẩm Quang, cho đến Tôn giả
Hà Ẩm Quang, Tôn giả Mãn Từ Tử, Tôn giả Thiện Hiện, Tôn giả Khánh Hỷ, Tôn giả
Nhân Hiền, và Tôn giả Vật Lực Sĩ Tử, cùng các đại chúng như thế; cả thảy là
25.000 vị.
Họ đều đồng thanh bạch Phật rằng:
"Bạch Năng Nhân Sư Tử Pháp Vương! Con
sẽ tận hết sức tinh tấn của mình--không chút dư sót--và dùng mọi sức thần thông
ở vô lượng thế giới để hóa làm vô lượng thân, rồi vượt qua vô lượng Phật độ mà
luôn nói các danh hiệu của chư Phật này và cũng như tuyên giảng những điều Phật
dạy."
Lúc bấy giờ Đức Phật Thế Tôn vì muốn khiến
đại chúng trông thấy nên thị hiện đại thần thông. Với sức thần thông của Phật,
Ngài hiện vô lượng ức quốc độ. Khi ấy đại chúng đều thấy Năng Nhân Sư Tử Pháp
Vương biến khắp các cõi nước kia mà thuyết giảng Kinh này và cũng như lời dạy
của chư Phật quá khứ--tất cả đều chẳng sai khác.
Phật bảo các đại chúng:
"Từ lâu xa ở trong vô lượng kiếp, Ta
đã khéo tu thần thông. Ở nơi vô thượng Phật Pháp, đại chúng hãy nhất định chớ
sanh hoài nghi. Vì muốn chúng sanh được an ổn, cho nên Ta mới mau nói các danh
hiệu của chư Phật này. Như thế sẽ khiến các chúng sanh vĩnh viễn xa rời khổ ách
của sanh tử."
❖
Lúc bấy giờ Phật bảo Tuệ mạng Thu Lộ Tử:
"Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ
nhân nào khi đã nghe các danh hiệu của chư Phật này, rồi với lòng tin sâu thanh
tịnh, họ phát khởi Đạo tâm và yêu mến thọ trì. Ngày đêm tinh tấn, họ đọc tụng
biên chép và rộng diễn nói cho người khác, thì sẽ được vô lượng vô biên công
đức quảng đại, trụ không thoái chuyển, cho đến mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, và hết thảy chúng ma đều chẳng thể nhiễu loạn."
Khi Phật thuyết Kinh này xong, Tuệ mạng Thu
Lộ Tử, Năng Thiên Đế, Phạm Vương, Tứ Đại Thiên Vương, Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh
Tín Nam, Thanh Tín Nữ, trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, và phi thiên,
tất cả đại chúng khi nghe Pháp này rồi, họ đều sanh tâm đại hoan hỷ.
Kinh 100 Danh Hiệu của Chư Phật
Dịch sang cổ văn: Pháp sư Tôn Xưng
(490-589)
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới
Thanh tín nam Nguyên Thuận
Dịch nghĩa: 31/1/2013 ◊ Cập nhật: 27/9/2014
☸ Cách đọc âm tiếng Phạn
Bhikṣu: bíc su
Bhikṣuṇī: bíc su ni
Nguồn: Thường Như
NAM MÔ THƯỜNG TRỤ THẬP PHƯƠNG TAM BẢO
NGUYỆN CẦU CHO PHÁP GIỚI CHÚNG SANH LUÔN AN VUI TRONG HÀO QUANG CỦA PHẬT
PHÁP__()__
---------------------
*
* Nam Mô quan thế âm bồ tát
* *
@. @. @.
@. @. @.
@. @.
Tu là sữa đổi bên trong...
Sửa : thân : khẩu : ý : tấm lòng từ bi...
Nói năng ý nghĩ hành vi...
Đừng làm người khác vì mình tổn thương...
Tu là phải xét lỗi mình...
Tự mình sửa đổi...đừng nhìn lỗi ai...
Thị phi tranh đấu bên ngoài...
Tập buôn xã hết,ngày đêm chuyên cần...
Dẫu cho thế sự xoay vần...
Giữ tâm tự tại muôn phần thong dong...
---------------------
Nam Mô quan thế âm bồ tát * *
@. @. @. @. @. @. @. @.
Tu là sữa đổi bên trong...
Sửa : thân : khẩu : ý : tấm lòng từ bi...
Nói năng ý nghĩ hành vi...
Đừng làm người khác vì mình tổn
thương...
Tu là phải xét lỗi mình...
Tự mình sửa đổi...đừng nhìn lỗi ai...
Thị phi tranh đấu bên ngoài...
Tập buôn xã hết,ngày đêm chuyên cần...
Dẫu cho thế sự xoay vần...
Giữ tâm tự tại muôn phần thong dong
---------------------
XÃ HỘI KHÔNG CÓ HÒA BÌNH. VÌ CON NGƯỜI
TRONG XÃ HỘI ĐÓ KHÔNG CÓ LÒNG BAO DUNG VÀ TRÍ TUỆ. NẾU NHƯ CON NGƯỜI ĐƯỢC TỊNH
HÓA, SỐNG VỚI ÁNH SÁNG TRÍ TUỆ.
Chính trí tuệ là bảo kiếm đoạn trừ các Tà
kiến. Dứt sạch phiền não và vô minh. Lòng bao dung cũng từ đó xuất hiện.
Bi và trí đã có thì nền hòa bình không thể
không thực hiện ở thế giới.
Nói thế giới hòa bình là nói đến tịnh hóa
thân tâm con người.
Nếu như con người ai cũng muốn hòa bình thì
chắc chắn thực hiện được.
Nếu muốn hòa Bình xã hội thì hòa bình cho
gia đình... rồi đến bên ngoài.
Mỗi người, mỗi nhà thì xã hội đều được sự
An bình và Hòa bình.
NAM MÔ BÔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
---------------------
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni phật!
...Mỗi Ngày Đêm trôi qua .
...Chúng ta lại thêm già.
...Và gần hơn cái chết.
...Khi tử thần đến rồi.
...Quyền lực cũng buông thôi.
...Bao Nhiêu người thân quý.
...Đành bỏ lại ra đi.
...Theo nghiệp mình đã tạo.
...Chỉ có các công đức.
...Là hành trang duy nhất.
...Là bạn nương tựa tốt.
...Cho Đời Nầy và sau !!
...A DI ĐÀ PHẬT !
---------------------
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
TRÍCH KINH NIỆM PHẬT BA LA MẬT.
PHỔ HIỀN BỒ TÁT NÓI :
"Tam-muội nầy gọi là Nhứt Thiết Phật Độ
Thể Tánh còn gọi là Niệm Phật Tam Muội. Do công đức xưng niệm danh hiệu Phật
tạo thành, hoặc là kết quả tự nhiên của mười tâm thù thắng.
Nầy Phật tử, nay tôi nương thần lực và lòng
đại bi vô hạn lượng của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, mà tuyên thuyết Công Đức Bất
Khả Xưng Tán của sự chấp trì danh hiệu Phật.
Mười thứ tâm thù thắng ấy, thật ra vừa là
nhân vừa là quả. Nhân cùng quả thì không bao giờ rời nhau. Người tu môn niệm
Phật thì phải đề khởi mười thứ tâm thù thắng, mới nhanh chóng thâm nhập Niệm
Phật Tam-muội, hiện bày cảnh giới Cực-Lạc. Hoặc ngược lại, người đặt trọn tín
tâm nơi Bản-nguyện và cả đời chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Phật, thì dần dần
đi vào Niệm Phật Tam-muội, tự nhiên thành tựu mười thứ tâm thù thắng nói trên.
Tại sao vậy ?
Nầy Phật tử hãy chăm chú lắng nghe, tôi sẽ
giải thích tường tận.
Danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật vốn đầy đủ vô
lượng vô biên hằng hà sa công đức, vô lượng vô biên hằng hà sa ý nghĩa, vô
lượng vô biên hằng hà sa lực dụng, cứu cánh, cảnh giới, giác tánh ... dẫu trăm
ngàn muôn ức na-do-tha vi trần đại kiếp, cũng không thể diễn nói hết được. Nay
vì chúng sanh nơi thời kỳ Chánh pháp cuối cùng, mà tôi sẽ lược nói, để chúng
sanh thu hoạch nhiều lợi ích.
Nầy Phật tử ! Nam-mô A-Di-Đà Phật nghĩa là
gì ?
Nam-mô là thủy giác. A-Di-Đà là tương tục
giác, Phật là bản giác.
Nam-mô là năng niệm, A-Di-Đà là tương tục
niệm, Phật là sở niệm.
Nam-mô là giới luật, A-Di-Đà là thiền định,
Phật là trí tuệ.
Nam-mô là thế gian giới, A-Di-Đà là pháp
giới, Phật là vô sai biệt giới, vô sở hữu cảnh giới, vô trụ xứ cảnh giới.
Nam-mô là thường, A-Di-Đà là tịch, Phật là
quang.
Nam-mô là diệu quan sát trí, A-Di-Đà là
bình đẳng tánh trí, Phật là đại viên cảnh trí, vô tận sở hữu trí.
Nam-mô là phi hữu, A-Di-Đà là phi vô, Phật
là không tánh, phi hữu vô định tánh.
Nam-mô là như thực hữu, A-Di-Đà là như thực
không, Phật là như thực bất không.
Nam-mô là sai biệt trí, A-Di-Đà là vô sai
biệt trí, và Phật là pháp hải tuệ công đức vô tận tạng viên mãn trí.
Nam-mô là phương tiện lực, A-Di-Đà là cứu
cánh lực, và Phật là dung thông phương tiện siêu việt cứu cánh lực.
Nam-mô là ly trần, A-Di-Đà là ly căn, Phật
là ly thức.
Nam-mô là chuyển y tạng, A-Di-Đà là vô tận
thiện căn tạng, Phật là quyết định chính giác tạng.
Nam-mô là ly cẩn tạng, A-Di-Đà là niết bàn
tạng, Phật là như huyễn giải thoát tạng.
Nam-mô là trang nghiêm Phật quốc độ,
A-Di-Đà là thành tựu vô biên Phật quốc độ, Phật là như huyễn thập phương Hoa
Tạng Thế Giới Hải.
Nam-mô là gia trì lực, A-Di-Đà là tiếp dẫn
lực, Phật là tự tánh tương ưng nhiếp thọ lực.
Nam-mô là khai thị vô lượng trí, A-Di-Đà là
thâm nhập chính giác trí, Phật là quang minh phổ chiếu trí.
Nam-mô là thế gian giải, A-Di-Đà là giác
ngộ giải, Phật là nhất thiết trí biến chiếu thập phương viên mãn giải.
Nầy Phật tử, danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật
có vô lượng vô biên bất khả thuyết ý nghĩa thâm mật vi diệu như thế, dẫu ba đời
mười phương chư Phật diễn nói cũng không cùng tận.
---------------------
CON
ÔI ! MẸ LUỐNG
ƯU PHIỀN
PHIỀN
VÌ ÁI NỮ
CHẲNG CHUYÊN ĐẠO MẦU
******************************************
(CẢNH BỒNG LAI)
(Khánh Bình, 30-9 năm Đại Đạo 39 Quý Mão,
15-11-1963)
]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]]
THI BÀI :
Lời thánh, phật, thần, tiên ban bố,
Rán lo sao khỏi hổ phận duyên;
Con ôi ! Mẹ luống ưu phiền,
Phiền vì ái nữ chẳng chuyên đạo mầu.
Ớ con ôi ! Cao sâu huyền bí,
Mẹ dạy rành, suy nghĩ mà hành;
Ớ con ! kìa chốn cao xanh,
Chờ con đến đó, ân lành Mẹ ban.
Ban cho trẻ cảnh nhàn an hưởng,
Hưởng thiên thu, tạo chưỡng linh đơn;
Vịnh ca, cầm nhặc khúc đờn,
Thi âm tao nhã, đội ơn Mẹ truyền.
Vịnh phú thơ, đoàn viên tập luyện,
Đặng thuốc thần những chuyện cơ huyền;
Đờn ca, rượu thánh, cờ tiên,
Mặc tình vui thú thiên nhiên lâu dài.
Trổi khúc ca, đờn bài tao nhã,
Vịnh khúc bình, lòng thỏa dạ thông;
Ớ con! Con học nằm lòng,
Đặng lo về chốn đảo bồng ớ con !
Kìa là chốn bồng non tao nhã,
Để ngâm nga điềm lạ ứng thinh;
Ve reo dựa cội mai huỳnh,
Phụng chầu, hạc múa, âm thinh chẳng ngừng.
Bóng cực lạc ánh hừng rạng lố,
Liễu sum sê, mai trổ đủ màu;
Quyên kêu, vượn hú thanh tao,
Dòm xem bích thủy rậm màu thao thanh.
Dạo tứ hướng ân lành nhuần gội,
Liều linh đơn tắm gội cam lồ;
Chiều xem tòng bá nhành phô,
Sáng trong hoa lý, cam lồ nhuần ơn.
Sớm lên đãnh mấy cơn đờn nhặc,
Nhạc thiều kia bạn tác trần ai;
Mấy phen dạo cảnh bồng lai,
Mặc tình thi phú thơ bài vịnh ca,
Vui cờ rượu, ngâm nga trổi nhịp,
Trổi nhịp đờn liên tiếp đôi dây,
Không dây đờn ấy là đây,
Đờn kêu tao nhã ớ bầy trẻ thơ !
Trổi giọng bắc bến bờ chỉ rõ,
Rồng đoanh mây xanh có mấy ngày;
Chực chầu đến trước bệ giai,
Rồng chầu, hổ phục, bồng lai tỏ tường.
Giọng oanh trổi yêu thương mến bạn,
Giọng ve trầm theo bản vịnh ca;
Vịnh ca vui thú tửu trà,
Trà là đông độ, rượu là rượu tiên.
Mấy lúc rảnh chích chuyền em chị,
Mặc tình vui bích thủy sơn khê,
Tào khê che phủ sơn khê,
Ngô đồng phơi lá, trăm bề vui thay.
Đã giáp vòng bồng lai trở lại,
Về Diêu cung tâm toại biết bao;
Trở ra thân thích công tào,
Trở vô em chị một màu bạn tiên.
DIÊU TRÌ KIM MẪU
---------------------
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính chào chư tín hữu đồng tu. Chúc mọi
người luôn an thân lạc tâm hạnh nơi Giới, Đức nơi Đạo. Luôn vì Đạo mà có thể
hành khiến Tâm ngày càng vào thâm sâu hơn với Phật. Luôn bên cạnh vị Phật nơi
lòng mình để thổi Trí sáng Tâm khai vào đời sống giản dị nhưng lại vô cùng hạnh
phúc an lạc và hỷ diệu.
Mấy hôm nay nhân là có duyên với một vài
người Học Phật Tri Kiến nhưng chưa Hành Thâm Tri kiến mình đã học. Vì vậy nên
họ luôn gọi là hô phong hoán vũ với những lý của mình đã học mà chưa thể thực
hành nơi đời sống của chính mình. Đây gọi là Bệnh Thành Tích Sở Học của người
yêu Lý Luận Phân Tích về Đạo Phật.
Đạo Phật thực ra rất thực tế giản dị gần
gũi và vô cùng nhiệm màu. Nơi Kinh gọi là Bất Khả Tư Nghị. Bất là KHÔNG, Khả
tức là Khả Năng, Tư là Tư Duy, Nghị là Nghị Luận. Bất Khả Tư Nghị tức là Không
Khả Năng Tư Duy Nghị Luận được. Điều này ví như khi bạn bị nước cuốn trôi nếu
có thể nhất Tâm Niệm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT lập tức bạn sẽ được cứu đưa vào
chỗ cạn vậy. Sự Linh ứng nhiệm màu của Đạo Phật được duy trì vài ngàn năm nay
đều là do Sự Hóa Độ của các Bậc Thượng Tầng Tâm Linh gọi là Chư Phật, Chư Đại
Bồ Tát, Chư Thánh Hiền Tăng. Các ngài làm việc thì Phàm Phu không thể tin không
thể hiểu. Vì nó vượt ngoài Trí Năng của con người.
Chúng ta nếu với mỗi người đến với đạo Phật
chắc chắn ai ai cũng trải qua nhiệm màu. Nếu lại là người chân thật tu hành thì
nhiệm màu lại vô cùng vi diệu khôn xiết. Tại sao xưa nay rất nhiều người Niệm
Nam Mô A Di Đà Phật hay A Di Đà Phật. Trong khi Phật A Di Đà ngài ở tận Tây
Phương Cực Lạc. Còn Tại Sao chúng ta niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lại ít
hơn trong khi đó Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là thầy dạy của chúng ta là Đạo Sư
của chúng ta . Điều này há cớ là sao ?. Tại sao lại có điều lạ lùng như vậy ?.
Người không biết điều này thì đầy dãy vô khối. Cũng như bao người đang tu trong
thời đại ngày nay vậy. Thử hỏi hết kiếp này của họ liệu họ có ra khỏi sinh tử
Luân hồi được Không ?. Chắc chắn con số ra khỏi sinh tử các Bậc Đại Thánh đều
nắm rõ trong lòng bàn tay. Ví như cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới có bất cứ
người nào thoát khỏi Tam Giới các ngài còn biết huống hồ 1 cõi Sa Bà bé nhỏ
này.
Người hiện đại ngày nay Niệm Phật bằng Tâm
Chân Thành bằng Tâm Cung Kính sâu xa, bằng Tâm Buông Tham Sân Si Mạn Nghi Ác
Kiến chính là những người con chân chính của Ngài Thích Ca Mâu Ni Phật. Tại sao
nói là Chân Chính vì biết nghe theo lời Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni Phật dạy ở nơi
Kinh Đại Tập Mạt Pháp Ức ức người tu hành nhưng đắc quả thì hiếm. Duy chỉ nương
theo Pháp Môn Tịnh Độ có thể ra khỏi sinh tử. Thiết nghĩ Cái gì đều do Nhân Quả
chi phối. Nói điều này ra có rất rất nhiều người không tin. Vì sao vì họ không
có duyên với Tịnh Độ. Hay nói cách khác theo Kinh là Thiện Căn Phước Đức và
Nhân Duyên chưa đủ. Có thể nói là cần phải trưởng dưỡng những nhân tố này.
Kinh Niệm Phật Ba La Mật Đức Thích Ca Mâu
Ni có nói rằng. Vãng Sinh tức là Thành Phật. Chúng ta người nếu có đủ duyên đủ
Phước đủ Tuệ sẽ gặp được các kinh điển Đại Thừa với Những lời lẽ rất sâu xa vi
diệu mà thực sự nó nằm ngoài hiểu biết trí Tư duy phàm phu của loài người. Bởi
đây là các Kinh dành cho các Bậc vào Tín Vị Bồ Tát tu hành. Vì thế hàng đang
học ở Thanh Văn Duyên Giác khi chưa có Chứng Quả thì với Kinh Đại Thừa Phương
Đẳng nằm ngoài hiểu biết của họ.
NIỆM PHẬT là Pháp tối thắng vi diệu thậm
thâm mà đến ngay các Bậc Đại Bồ Tát vẫn Niệm. Như Ngài Quán Âm Văn Thù Phổ Hiền
Thế Chí. Các Ngài này là Pháp Vương Tử tức là con nối dõi dòng Giống Như Lai.
Phát huy kế thừa sự Nghiệp Như Lai. Cho nên nếu Ai đang Niệm Phật thì chính các
bạn sau này đều là Trưởng Tử của Như Lai. Còn không Niệm Phật thì bạn hãy tự
nên biết rằng mình còn cách Phật quá xa. Đừng có tự hào ngã Mạn là ta không cần
Niệm Phật. Đó là Niệm Ma đó. Chỉ có là con của Ma mới không Niệm Phật.
Điều này ví như kẻ Tu Hành mà không giữ
giới. Khi Tu Hành mà không giữ giới thì biết kẻ đó là Ma. Lời nói của kẻ đó có
hay đến mấy, thì đó cũng là lời của Ma thuyết để lừa những người thiếu trí tuệ
mà thôi. Chúng Ta đang trong thời kỳ mạt pháp rồi. Thời kỳ này Tà sư thuyết
pháp nhiều như sông hằng. Các bạn nếu là người có Duyên có Phước có Đức thì sẽ
gặp được Minh Sư. Nếu các bạn thiếu điều này thì phải thật tâm tức phát cái Tâm
Chân Thành Cung Kính Tin Tưởng sâu xa đối với Phật trước Tam Bảo khẩn cầu cho
con gặp được Minh Sư dẫn dắt chỉ bảo cho con Pháp môn mà ngay trong hiện đời
con có thể tu hành mà Liễu sinh Thoát Tử.
Nhà Phật có câu Phật Thủy môn chung hữu cầu
tất ứng. Nếu bạn thật có lòng tin chân thành mà cầu thì sở nguyện sẽ thành tựu.
Nên nhớ Phật không cho bạn vàng bạc giàu sang đâu mà Phật giúp bạn thực sự ra
khỏi Sinh Tử. Đó là việc lớn rất lớn mà ít người thực sự Giác ngộ sâu sắc điều
này. Giờ con người nơi thế gian thích hơn thua về quyền lực, tiền tài, địa vị,
nhà cửa. Đây là những thứ kéo bạn vào luân hồi đó. Hãy Buông Ngũ Dục Lục Trần.
Bạn buông được mà niệm Phật phát tâm bồ đề nguyện sinh cực lạc thì chắc chắn
vãng sinh. Phẩm vị của bạn vãng sinh lại còn rất cao. Cảnh giới Thật Báo Trang
Nghiêm Độ nữa.
Duyên xin dừng tại đây. Bài viết chia sẻ
này hơi dài khiến cho người đọc sẽ khó chịu. Người hiện đại ngày nay luôn thích
cái gì cũng phải nhanh phải chóng phải sớm thành tựu. Xin thưa không có dễ vậy
đâu nhất là Tu Đạo. Nếu bạn không tinh chuyên nhất tâm hành đạo mà toàn nghĩ
việc đời thình thoảng mới tu mới hành thì bạn còn lâu mới thành tựu. Niệm Phật
hay các Pháp nào cũng vậy đều phải đầu tư công sức tinh chuyên nhất quán mới
được về tới BẢO SỞ. Chúc nguyện sự Tinh Tấn sẽ luôn hiện diện nơi đời sống của
các bạn để có 1 đời sống chân thật đơn giản, lợi ích, an lạc hạnh phúc và đặc
biệt là siêu thoát Tam Giới Lục Đạo.
---------------------
Đôi khi cần biết dại khờ
Để lòng thanh thản một giờ bình an
Đôi khi cần bỏ tính toan
Để bờ môi đó thênh thang nụ cười.
Đôi khi chín bỏ làm mười
Để thôi câm nín, một lời trao nhau
Đôi khi thấu hiểu niềm đau
Để thôi phán xét những câu tuyệt
tình.
Đôi khi giở biết trang Kinh
Để tìm thấy lại an bình nội tâm
Đôi khi biết sống lặng thầm
Để nhìn tỉnh thức ươm mầm, nở hoa.
Đôi khi cần biết lỗi ta
Để lòng độ lượng, thứ tha lỗi người
Đôi khi ngước mắt nhìn trời
Để hồn khoáng đạt rạng ngời nắng
xuân.
Đôi khi cần biết dửng dưng
Trước bao cám dỗ trói chân, khổ đời
Đôi khi cần biết buông lơi
Để nghe hơi thở là nơi dịu dàng.
Đôi khi nhặt, đôi khi khoan
Để yêu thương chẳng buộc ràng lẫn nhau
Đôi khi nhớ lúc ban đầu
Để tình trong sáng thuở nào nguyên sơ.
Đôi khi tỉnh giữa đời mơ
Để tâm tỏ ngộ bến bờ thực hư
Đôi khi biết rải lòng từ
Để cho nghĩa sống bây chừ lên ngôi.
Đôi khi biết lặng cái Tôi
Để đây với đó xa xôi lại gần
Đôi khi đạm bạc, thanh bần
Đoái thương bao kiếp nhọc nhằn xung
quanh.
Đôi khi chuông mõ tu hành
Biết đời hơn thiệt...đua tranh...mãi
đời.
Đôi khi ngồi giống Phật ngồi
Như như bất động nụ cười thiên thu.
Để ngày nao dứt phàm phu
Mở toang cánh cửa Chân Như bước về...
🙏🍁🙏🍁🙏🍁
Nam Mô Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
---------------------
Ngồi ngắm trần gian thấy cũng vui
Một chân bước tới, một chân lui
Lắm khi hạnh phúc mà rơi lệ
Giữa tiếng cười in bóng ngậm ngùi.
Nhiều lúc cõi ni thấy cũng buồn
Mà sao không muốn bỏ đi luôn
Mải mê...đời kiến bò quanh quẩn
Để nắng mưa...phong kín cội
nguồn.
Có dạo đời nghiêng...ngỡ chết rồi
Ai dè chưa dứt nợ lôi thôi
Đường trần lại cuốn theo dòng chảy
Cơm áo, vui đùa, nhưng lẻ loi.
Vài kiếp sau còn trở lại đây
Rong rêu đời sống...có chi hay
Khóc- cười- được- mất vờn như mộng
Trả tiếp niềm vui giá đọa đày.
Ngồi đếm trăm năm thấy cũng dài
Thế rồi...không quá một tầm tay
Nghìn thu gói gọn trong vài phút
Thoảng đến rồi đi như gió bay...
🙏🍁🙏🍁🙏🍁
Nam Mô A Di Đà Phật
Move your mouse to view the photo in 3D
---------------------
Tháng bảy mùa thu lá rụng vàng,,,,
Ấy mùa báo hiếu lễ vu lan,,,
Bâng khuâng nhớ đến ân sinh dưỡng,,,
Thổn thức tâm con ngấn lệ tràn,,,
Nương mùa hiếu hạnh bao dung
Con hiền cháu thảo trĩu chùng lòng son
Chân thành thấp nén tâm hương
Dâng mùa hiếu hạnh nhớ thương tôn thờ
Chắp tay niệm tiếng nam mô,,,
Dâng mùa hiếu hạnh đến giờ linh thiêng,,,
Chứng tri con thảo cháu hiền,,,
Dù cho muôn một đáp đền nghĩa ân,,,
Dù ai ở tận nơi đâu,,,
Đến mùa báo hiếu mau mau tụ về,,,,
Báo hiếu đừng đợi đừng chờ,,,
Cầu mong cha mẹ an vui mãn đời,,,
.*..&.NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT..&..*...
.&.. NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT..&..
.& NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ
TÁT.
Comments
Nguyễn Thoa
nam mo bao lien hoa thien tru
ta la thu vuong phat
---------------------
Nam mô a di đà phật -
Sợi lòng tơ giối. khó lòng con ngơi,
Nửa đêm thức trắng đã giồi,
Cả ngày trao đảo đứng ngồi chẳng yên,
bởi phận có cả trăm ngàn giối tơ ,
thở than ai thấu, đất trời nào hay.
nào đâu vay chả song giồi dứt đâu.
(như sợi to giối khó lòng gỡ gia, )
thà rằng cứa cắt thì đau.
còn hơn thắt ruột đau lòng. khố thân.. trăm
ngàn nào hơn.....
---------------------
Cuộc đời có lúc thịnh suy
Được thua khinh trọng cũng tùy người
thôi.
Buồn chi những chuyện xa xôi
Giận chi sự việc qua rồi đã lâu.
Tội gì thức trắng đêm thâu
Xả buông tất cả buồn rầu tiêu tan
Để cho tâm trí bình an
Cuộc đời còn có muôn ngàn điều hay.
Chỉ cần cách sống đổi thay
Đừng nên chấp nhặt xưa nay lối mòn
Trăng còn có lúc khuyết tròn
Sự đời đừng tưởng ngọt ngon đều đều.
Chắc là phước đức không nhiều
Cho nên hay gặp những chiêu đau lòng
Vậy thì xả bỏ là xong
Chấp hoài cũng giống mang gông nặng
nề.
Có gì tốt đẹp mà mê
Xem như chuyện nhỏ bên lề đời ta
Những điều nghịch cảnh phong ba
Là do nhân oan gia đời nào.
Bây giờ trả hết đâu sao
Trả rồi khỏe nhẹ hãy chào tiễn đưa
Đừng nên tái ngộ dây dưa
Đừng gieo lộn giống như xưa được rồi.
Ngày nay phước đức vun bồi
Đừng bi quan quá buông trôi cuộc đời
Phải lo làm lại kịp thời
Vươn lên hoàn hảo rạng ngời tương
lai...
🙏🌷🙏🌷🙏🌷
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ
Tát
---------------------
---------------------
Kính chào chư tín hữu đồng tu. Chúc mọi
người luôn an thân lạc tâm hạnh nơi Giới, Đức nơi Đạo. Luôn vì Đạo mà có thể
hành khiến Tâm ngày càng vào thâm sâu hơn với Phật. Luôn bên cạnh vị Phật nơi
lòng mình để thổi Trí sáng Tâm khai vào đời sống giản dị nhưng lại vô cùng hạnh
phúc an lạc và hỷ diệu.
Mấy hôm nay nhân là có duyên với một vài
người Học Phật Tri Kiến nhưng chưa Hành Thâm Tri kiến mình đã học. Vì vậy nên
họ luôn gọi là hô phong hoán vũ với những lý của mình đã học mà chưa thể thực
hành nơi đời sống của chính mình. Đây gọi là Bệnh Thành Tích Sở Học của người
yêu Lý Luận Phân Tích về Đạo Phật.
Đạo Phật thực ra rất thực tế giản dị gần
gũi và vô cùng nhiệm màu. Nơi Kinh gọi là Bất Khả Tư Nghị. Bất là KHÔNG, Khả
tức là Khả Năng, Tư là Tư Duy, Nghị là Nghị Luận. Bất Khả Tư Nghị tức là Không
Khả Năng Tư Duy Nghị Luận được. Điều này ví như khi bạn bị nước cuốn trôi nếu
có thể nhất Tâm Niệm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT lập tức bạn sẽ được cứu đưa vào
chỗ cạn vậy. Sự Linh ứng nhiệm màu của Đạo Phật được duy trì vài ngàn năm nay
đều là do Sự Hóa Độ của các Bậc Thượng Tầng Tâm Linh gọi là Chư Phật, Chư Đại
Bồ Tát, Chư Thánh Hiền Tăng. Các ngài làm việc thì Phàm Phu không thể tin không
thể hiểu. Vì nó vượt ngoài Trí Năng của con người.
Chúng ta nếu với mỗi người đến với đạo Phật
chắc chắn ai ai cũng trải qua nhiệm màu. Nếu lại là người chân thật tu hành thì
nhiệm màu lại vô cùng vi diệu khôn xiết. Tại sao xưa nay rất nhiều người Niệm
Nam Mô A Di Đà Phật hay A Di Đà Phật. Trong khi Phật A Di Đà ngài ở tận Tây
Phương Cực Lạc. Còn Tại Sao chúng ta niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lại ít
hơn trong khi đó Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là thầy dạy của chúng ta là Đạo Sư
của chúng ta . Điều này há cớ là sao ?. Tại sao lại có điều lạ lùng như vậy ?.
Người không biết điều này thì đầy dãy vô khối. Cũng như bao người đang tu trong
thời đại ngày nay vậy. Thử hỏi hết kiếp này của họ liệu họ có ra khỏi sinh tử
Luân hồi được Không ?. Chắc chắn con số ra khỏi sinh tử các Bậc Đại Thánh đều
nắm rõ trong lòng bàn tay. Ví như cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới có bất cứ
người nào thoát khỏi Tam Giới các ngài còn biết huống hồ 1 cõi Sa Bà bé nhỏ
này.
Người hiện đại ngày nay Niệm Phật bằng Tâm
Chân Thành bằng Tâm Cung Kính sâu xa, bằng Tâm Buông Tham Sân Si Mạn Nghi Ác
Kiến chính là những người con chân chính của Ngài Thích Ca Mâu Ni Phật. Tại sao
nói là Chân Chính vì biết nghe theo lời Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni Phật dạy ở nơi
Kinh Đại Tập Mạt Pháp Ức ức người tu hành nhưng đắc quả thì hiếm. Duy chỉ nương
theo Pháp Môn Tịnh Độ có thể ra khỏi sinh tử. Thiết nghĩ Cái gì đều do Nhân Quả
chi phối. Nói điều này ra có rất rất nhiều người không tin. Vì sao vì họ không
có duyên với Tịnh Độ. Hay nói cách khác theo Kinh là Thiện Căn Phước Đức và
Nhân Duyên chưa đủ. Có thể nói là cần phải trưởng dưỡng những nhân tố này.
Kinh Niệm Phật Ba La Mật Đức Thích Ca Mâu
Ni có nói rằng. Vãng Sinh tức là Thành Phật. Chúng ta người nếu có đủ duyên đủ
Phước đủ Tuệ sẽ gặp được các kinh điển Đại Thừa với Những lời lẽ rất sâu xa vi
diệu mà thực sự nó nằm ngoài hiểu biết trí Tư duy phàm phu của loài người. Bởi
đây là các Kinh dành cho các Bậc vào Tín Vị Bồ Tát tu hành. Vì thế hàng đang
học ở Thanh Văn Duyên Giác khi chưa có Chứng Quả thì với Kinh Đại Thừa Phương
Đẳng nằm ngoài hiểu biết của họ.
NIỆM PHẬT là Pháp tối thắng vi diệu thậm
thâm mà đến ngay các Bậc Đại Bồ Tát vẫn Niệm. Như Ngài Quán Âm Văn Thù Phổ Hiền
Thế Chí. Các Ngài này là Pháp Vương Tử tức là con nối dõi dòng Giống Như Lai.
Phát huy kế thừa sự Nghiệp Như Lai. Cho nên nếu Ai đang Niệm Phật thì chính các
bạn sau này đều là Trưởng Tử của Như Lai. Còn không Niệm Phật thì bạn hãy tự
nên biết rằng mình còn cách Phật quá xa. Đừng có tự hào ngã Mạn là ta không cần
Niệm Phật. Đó là Niệm Ma đó. Chỉ có là con của Ma mới không Niệm Phật.
Điều này ví như kẻ Tu Hành mà không giữ
giới. Khi Tu Hành mà không giữ giới thì biết kẻ đó là Ma. Lời nói của kẻ đó có
hay đến mấy, thì đó cũng là lời của Ma thuyết để lừa những người thiếu trí tuệ
mà thôi. Chúng Ta đang trong thời kỳ mạt pháp rồi. Thời kỳ này Tà sư thuyết
pháp nhiều như sông hằng. Các bạn nếu là người có Duyên có Phước có Đức thì sẽ
gặp được Minh Sư. Nếu các bạn thiếu điều này thì phải thật tâm tức phát cái Tâm
Chân Thành Cung Kính Tin Tưởng sâu xa đối với Phật trước Tam Bảo khẩn cầu cho
con gặp được Minh Sư dẫn dắt chỉ bảo cho con Pháp môn mà ngay trong hiện đời
con có thể tu hành mà Liễu sinh Thoát Tử.
Nhà Phật có câu Phật Thủy môn chung hữu cầu
tất ứng. Nếu bạn thật có lòng tin chân thành mà cầu thì sở nguyện sẽ thành tựu.
Nên nhớ Phật không cho bạn vàng bạc giàu sang đâu mà Phật giúp bạn thực sự ra
khỏi Sinh Tử. Đó là việc lớn rất lớn mà ít người thực sự Giác ngộ sâu sắc điều
này. Giờ con người nơi thế gian thích hơn thua về quyền lực, tiền tài, địa vị,
nhà cửa. Đây là những thứ kéo bạn vào luân hồi đó. Hãy Buông Ngũ Dục Lục Trần.
Bạn buông được mà niệm Phật phát tâm bồ đề nguyện sinh cực lạc thì chắc chắn
vãng sinh. Phẩm vị của bạn vãng sinh lại còn rất cao. Cảnh giới Thật Báo Trang
Nghiêm Độ nữa.
Duyên xin dừng tại đây. Bài viết chia sẻ
này hơi dài khiến cho người đọc sẽ khó chịu. Người hiện đại ngày nay luôn thích
cái gì cũng phải nhanh phải chóng phải sớm thành tựu. Xin thưa không có dễ vậy
đâu nhất là Tu Đạo. Nếu bạn không tinh chuyên nhất tâm hành đạo mà toàn nghĩ
việc đời thình thoảng mới tu mới hành thì bạn còn lâu mới thành tựu. Niệm Phật
hay các Pháp nào cũng vậy đều phải đầu tư công sức tinh chuyên nhất quán mới
được về tới BẢO SỞ. Chúc nguyện sự Tinh Tấn sẽ luôn hiện diện nơi đời sống của
các bạn để có 1 đời sống chân thật đơn giản, lợi ích, an lạc hạnh phúc và đặc
biệt là siêu thoát Tam Giới Lục Đạo. See Less
---------------------
Tam tòng – Tứ đức
Tam tòng – Tứ đức:
Tam tòng:
Tại gia tòng phụ (在家從父) 在家从父 zài jiā cóng fù
Xuất giá tòng phu (出嫁從夫) 出嫁从夫 chū jià cóng fū
Phu tử tòng tử (夫死從子) 夫死从子 fū sǐ cóng zǐ
Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức
là bốn tính nết tốt người phụ nữ có, là: công – dung – ngôn – hạnh.
Tam tòng:
Tại gia tòng phụ (在家從父) 在家从父 zài jiā cóng fù
(tại gia tòng phụ): Người phụ nữ khi còn ở nhà phải nghe theo cha. Chỉ khi nào
cha mẹ làm điều gì trái với với đạo lý, thì người con cần phải khuyên cha mẹ,
nhưng phải bằng tất cả sự thương yêu, hiếu kỉnh, phải hết sức khiêm tốn, nhỏ
nhẹ; đề nghị cha mẹ nên xét lại điều đó, nếu cha mẹ không bằng lòng, dù có bị
la rầy đánh đập, mình cũng giữ lòng tôn kính không oán hận. Đức Khổng Tử dạy
rằng;
“Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chi bất tòng, hựu
kính bất vi, lao nhi bất oán” (Thờ cha mẹ, thì khi cha mẹ có làm điều gì lầm
lỗi, con phải tìm cách êm đềm, dịu dàng mà can ngăn, thấy cha mẹ không nghe,
thì cũng kính trọng hiếu thảo, không trái lễ, dầu chịu đau đớn khổ nhục cũng
không oán giận – Luận ngữ/ Lý nhân, IV).
Xuất giá tòng phu (出嫁從夫) 出嫁从夫 chū jià cóng fū
(xuất giá tòng phu): Có nghĩa là con gái khi đã được ngả đi rồi thì nghe theo
chồng. Người phụ nữ vun vén, giúp chồng làm lên nghiệp lớn. Phải nghe theo
chồng. Do đó, một cách rất tự nhiên, người vợ luôn đóng vai em, nhường cho
chồng quyền làm chủ, còn vợ là phụ tá, giữ gìn gia nghiệp. Mọi việc trong gia
đình, người vợ thường đóng góp ý kiến cho chồng giải quyết, nhưng dành cho
chồng quyền quyết định sau cùng.
Phu tử tòng tử (夫死從子) 夫死从子 fū sǐ cóng zǐ (phu
tử tòng tử): Có nghĩa là nếu chồng qua đời thì phải theo con. Tòng tử được hiểu
là nếu người chồng mất đi thì người phụ nữ phải ở vậy nuôi con trưởng thành và
các việc trọng đại thì đều do con trai quyết định. Nếu chồng qua đời phải nghe
theo con trai. Khi chồng chết thì người vợ nên ở vậy, thủ tiết thờ chồng, quên
mình mà lo tạo dựng cho con.
Tứ đức:
Với người phụ nữ, tứ đức gồm phụ công (婦功), phụ dung (婦容), phụ ngôn (婦言) và phụ hạnh (婦行):
Công: 功 gōng công: Là công lao, sự nghiệp,
việc lớn. Có nghĩa là người phụ nữ khéo léo trong việc làm, đảm đang, tháo vát.
Sự nghiệp lớn của người phụ nữ đó là chăm sóc con cái, gìn giữ gia đình hòa
thuận hạnh phúc.
Việc nữ công, gia chánh phải khéo léo. Là
may, vá, thêu, dệt, bếp núc, buôn bán, với người phụ nữ giỏi thì có thêm cầm kỳ
thi họa.
Công là sự khéo léo tinh tế về tay chân và
nghề nghiệp của người con gái. Như lao động giỏi trên đồng ruộng với những
đường cày thẳng tắp, với cấy lúa thẳng hàng, biết nội trợ, biết lo toan sắp xếp
mọi công việc của người phụ nữ trong gia đình. Từ việc lo “cái mặc” như việc
dệt vải, rồi vá may, thêu thùa… phải thông thạo. Đến việc lo “cái ăn” như việc
cấy hái, trồng trọt, cơm nước, nấu nướng cho bữa ăn hàng ngày, biết lo chu tất
cho mâm cỗ, bánh trái cho ngày giỗ, ngày tết. Chữ công đó sau này trở thành
chuyên ngành nữ công gia chánh của phụ nữ. Nhưng bởi vì người phụ nữ là có tính
âm, nhu mềm, nên mọi việc phải giữ chừng mực, xử lý tốt quan hệ giữa công việc
gia đình và bên ngoài.
Nữ công là lo về gia chánh: biết coi trong
ngó ngoài, chăm sóc gia đình, nhà cửa cho sạch sẽ, trật tự, vén khéo; biết nấu
nướng các món ăn, biết đường kim mối chỉ, thêu thùa may vá; để cho chồng con
được ăn ngon, mặc ấm, ngoài ra còn biết lo cho chồng, nuôi con khỏe, dạy con
ngoan.
Dung: 容 róng. Người đàn bà phải hòa nhã,
gọn gàng, biết tôn trọng. Là với vẻ bên ngoài hiền dịu. Người xưa thường giáo
dục rất cẩn thận cho con gái về cách ăn mặc. Phụ nữ trong cách ăn mặc phải
trang nhã, đứng đắn không làm mất đi đức hạnh của mình. Người phụ nữ, bên ngoài
không nên ăn diện quá mức, bên trong phải chú trọng tu dưỡng đạo đức. Người xưa
quan niệm rằng, người phụ nữ phải có ngôn hành dịu dàng, dáng vẻ đoan trang,
nội tâm ôn hòa đó mới là người phụ nữ đẹp.
Chín tầng cửa đóng then gài,
Ra ngoài nghiêm nghị, trong thì kín chu.
Ngôn: 言 yán (ngôn) Ngôn là lời nói. Ngôn có
mặt trong tứ đức là bởi xã hội xưa cho rằng người phụ nữ phải biết cách ăn nói
sao cho nhẹ nhàng, khéo léo, không thô tục, hỗn hào.
Lời ăn tiếng nói khoan thai, dịu dàng, mềm
mỏng
Ngôn là lời nói, là cách phát ngôn trong
ứng xử hàng ngày, với mọi thứ bậc và mọi mối quan hệ gia đình, xã hội như: ông
bà, cha mẹ, anh chị em, cô dì, chú bác, chồng con, xóm giềng… Nếu trong các mỗi
quan hệ ấy, việc sử dụng ngôn từ tỏ ra biết phải trái, biết điều hay điều dở,
để phân biệt đối xử và ứng xử, khiến ai cũng vừa lòng và nể trọng. Người như
thế được xem là người có văn hoá, có giáo dục. Thật ra mối quan hệ này vô cùng
phức tạp và tế nhị. Bởi thế tục ngữ thường răn:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Hoặc:
Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người ngoan ai nỡ nói nhau nặng lời
Thực ra, trong dân gian người ta vẫn định
chuẩn rằng: Cô gái biết nói năng mạch lạc, biết thưa gửi rành rẽ. Lời nói điềm
đạm, lễ độ, ngọt ngào, biết trên biết dưới với bố mẹ, với anh em nhà chồng bà
con họ mạc và bè bạn.
Người phụ nữ phải giữ giọng nói luôn dịu
dàng ôn hòa, nói lời hay ý đẹp, không nói lời bậy bạ, hỗn hào, thô tục, khéo
léo ứng đối. “Khéo léo” ở đây không phải yêu cầu là “mồm miệng lanh lợi” mà là
khi nói phải suy xét xem lời nói có thỏa đáng không, có thích hợp không, không
dùng lời ác làm tổn thương người khác, không cướp lời người khác. Khi nói
chuyện với chồng, với con thì lời lẽ phải dịu dàng, khuyên can. Khi giao tiếp
xã hội, lời nói phải rõ ràng, giữ lễ. Cho nên “ngôn” là yêu cầu người phụ nữ
phải có trí tuệ và tu dưỡng mới có thể làm được.
Người xưa có câu:
“Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”.
Lời
nói có duyên bao giờ cũng gây được thiện cảm với người nghe.
Ngôn trong Tứ Đức là lời nói dịu dàng, có
duyên. Không thể phủ nhận sức thuyết phục của người phụ nữ mỗi khi lên tiếng
khuyên chồng, dạy con ở nhà, dàn xếp công việc, thương lượng trong kinh doanh,
Ngôn là lời nói có duyên, sẽ gây được thiện cảm với người nghe, người phụ nữ có
lời nói dịu dàng, giọng nói nhẹ nhàng thì hiệu quả càng lớn khi dạy bảo con cái,
khi khuyên nhủ người chồng và cả khi dàn xếp công việc ngoài xã hội, thương
lượng trong kinh doanh.
Hạnh: 德 dé (hạnh) Hạnh chính là đức hạnh,
là đức quan trọng nhất của người phụ nữ. Một người phụ nữ đức hạnh sẽ biết cách
giáo dục con cái, biết cách dung hòa mối quan hệ trong gia đình.
Tính nết hiền thảo, trong nhà thì nết na,
kính trên nhường dưới, chiều chồng thương con, ăn ở tốt với anh em họ nhà
chồng. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh, cay nghiệt.
Hạnh là đạo đức, là đức hạnh của người con
gái. Trong sự đánh giá toàn diện về con người, xã hội thường coi trọng đạo đức
hơn cả.
Hạnh ở đây, đề cập đến vai trò của người
phụ nữ trong gia đình. Bởi họ có ảnh hưởng rất lớn trong việc nuôi dạy con cái.
Nếu con hư, trách nhiệm đầu tiên xã hội quy về người mẹ: “Con hư tại mẹ”. Nếu
nhà có nền nếp kỷ cương, xã hội cũng quy công cho người mẹ: “Phúc đức tại mẫu”.
Hạnh ở đây chính là đạo làm người. Trong đó
bao hàm phần đạo lý với các bổn phận và nghĩa vụ với ông bà, cha mẹ, anh chị
em, con cháu, họ hàng, xóm giềng và các mối quan hệ xã hội khác. Đạo đức người
phụ nữ là phải thể hiện được lòng tôn kính, tính hoà thuận, lòng nhân ái, đức
bao dung… Tuy đặt xuống hàng thứ tư trong thứ tự phẩm hạnh của người phụ nữ,
nhưng thực tế xã hội coi Hạnh là bao trùm. Xưa đã thế, nay cũng vẫn vậy.
Hạnh là tánh nết hiền lành, hòa nhã, hiếu
thảo, kính trên nhường dưới, khoan dung và đoan chính. Giá trị sự hiền hòa của
người phụ nữ được Napoléon nhận định
rằng:
“Đàn bà đẹp làm vui mắt, đàn bà hiền làm
vui lòng. Người trước là một thứ nữ trang, còn người sau là một kho tàng”.
Hạnh của người phụ nữ đức hạnh muôn đời vẫn
là yêu chồng, thương con, giàu lòng hy sinh, chung thủy trong hôn nhân, không
đua đòi trong cuộc sống. Có tinh thần trách nhiệm với bản thân, gia đình và
cộng đồng.
Đồng thời, người phụ nữ cần có lòng vị tha,
độ lượng với mọi người; Cần có lòng nhân, chia ngọt sẻ bùi với nỗi bất hạnh của
tha nhân.
Biết nhường nhịn chồng và gia nương, giữ
gìn hòa khí trong gia đình, để gia đình yên vui.
“Nam nữ thụ thụ bất thân”
Theo giải thích của Huỳnh Tịnh Của trong
Đại Nam quốc âm tự vị thì Tứ đức như sau:
Phụ công: Sự khéo léo thành thậo trong gia
chính (việc trong nhà).
Phụ dung: Thái độ, tư thế nhẹ nhàng, đoan
trang, nghiêm chỉnh
Phụ ngôn: Nói năng lễ độ, kín đáo, ôn hoà.
Phụ hạnh: Cư xử nết na, đằm thắm.
Theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục
thì giải thích Tứ đúc mang tính “dân gian” hơn:
Phụ công: Là nghề khéo của người đàn bà,
nghề khéo thì chẳng qua trong nghề vá may thêu dệt và biết buôn bán mà thôi.
Phụ dung: Dáng phải chính đính hoà nhã.
Phụ ngôn: Là lời ăn tiếng nói của người đàn
bà, ăn nói phải khoan thai, dịu dàng; đừng cẩu thả mà cũng đừng the thé, quý hồ
mềm mỏng cho ai cũng dễ nghe.
Phụ hạnh: Là nết na người đàn bà, nết na
thì đến trên kính, dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con và lấy nết
hiền hậu mà ở với anh em họ hàng nhà chồng. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn,
không hợm hĩnh mà cũng không cay nghiệt với ai.
Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất trong
hành vi thường ngày của người phụ nữ. Một người phụ nữ có phẩm hạnh sẽ giáo dục
con cái trở thành những người có đạo đức. Hơn nữa, họ cũng giúp chồng đề cao
phẩm đức của bản thân, khiến gia đình thịnh vượng. Người phụ nữ có phẩm đức
phải thủ vững tiết tháo, giữ thân như ngọc, đối với hôn nhân gia đình phải một
lòng một dạ, đối với cha mẹ chồng phải khiêm cung hiếu lễ.
Có thể thấy rằng, “tứ đức” đối với người
phụ nữ hoàn toàn là điều cần thiết, không có điểm nào là không tốt.
Đấy là tứ đức, có đủ chừng ấy là người đáng
khen.
Như vậy chúng ta có thể thấy Tam tòng Tứ
đức đối với người phụ nữ là rất cần thiết. Tam tòng Tứ đức sẽ luôn có giá trị
trong việc hình thành nhân cách của người phụ nữ.
——–
Chú thích
^ Lễ ký, thiên Giao đặc sinh
^ Lễ ký, thiên Hôn nghĩa
^ Nghi lễ chú sớ, quyển 30
^ Chu lễ, Thiên quan trủng tể
^ Có tài liệu ghi “vị giá tòng phụ” 未嫁從父 (chưa lấy chồng
thì theo cha)
^ Có tài liệu ghi “ký giá tòng phu” 既嫁从夫 (đã xuất giá thì
theo chồng)
^ Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nhà
xuất bản Văn hóa Thông tin, H. 2001, trang 78.
^ Có tài liệu ghi “phụ đức” 婦德 cũng với nghĩa
tương tự 婦行
———
Tam bất khả xuất:
Trong phép có ba điều không được
đuổi:
1. – Đàn bà từng để tang ba năm nhà
chồng,
2. – Trước nghèo sau giàu,
3. – Ở nhà chồng thì được mà về
nhà mình thì không có chỗ nào nương tựa.
Đàn bà đã để tang cha mẹ chồng ba
năm là đã giúp chồng trong sự báo hiếu rồi, ấy cũng là có công
với chồng, nếu bỏ thì chẳng những bạc tình, mà lại là người bất
hiếu với cha mẹ nữa. Trước mới lấy nhau thì nghèo, mà sau rồi mới
giàu có, thì là cũng có giúp đỡ mới nên. Nếu bỏ đi thì là người
phụ công. Đàn bà chỉ nhờ chồng con và nhờ cha mẹ được thôi. Nếu
cha mẹ người vợ mất rồi mà đuổi đi thì người ta nương nhờ vào
đâu, thế là bất nghĩa, cho nên không đuổi.
———–----------------
*****************
---------------------
A. TAM CANG
Trong nhơn đạo, người xưa ấn định, nam thì
tuân theo tam cang, Ngũ thường, nữ thì giữ gìn Tam tùng Tứ đức. Trong Phần I
nầy bàn trước về Tam cang Ngũ thường.
Tam cang gồm có:
- Quân thần cang.
- Phụ tử cang
- Phu thê cang
1. QUÂN THẦN CANG
(Giềng mối Vua Tôi)
Ngày xưa, trong thể chế quân chủ thì vua là
người đứng đầu trong nước, ngày nay những nước theo thể chế dân chủ thì gọi
người đứng đầu lãnh đạo đất nước là Quốc trưởng, Tổng thống, Chủ tịch nước. Họ
là người thọ mệnh Trời chăn dân giữ nước, có đức độ, khôn ngoan tài cán hơn
thường dân. Nên người dân sống trong thể chế nào, cũng cần phải trung thành với
người lãnh đạo, tức là trung với đất nước.
Bổn phận làm dân: Dân là một phần tử trong
nước, người công dân phải giữ tròn bổn phận của mình. Yêu nước nhà, mến giống
nòi, thuế sưu đóng đủ, đừng toan kế tà, chẳng nên vầy đoàn, hiệp lũ gây việc
trộm cướp, phá xóm, phá làng.
Ở trong quốc gia phải tuân hành luật nước,
cũng như ở trong đạo phải giữ qui điều giới luật của Đạo và phải kiêng sợ luật
Trời báo ứng và tôn trọng người hướng đạo và giáo hội. Rồi cứ một lòng bảo hộ
gia đình, tương thân, tương ái với người xã hội, góp công vào việc tạo thuần
phong, mỹ tục, an cư lạc nghiệp của giống nòi, hướng đến cuộc sống tốt đời đẹp
đạo.
Nếu mỗi người công dân không phạm luật
nước, không trái Mạng Trời, thì gia đình được an hòa thảo thuận, góp phần xây
dựng một xã hội thái bình, tiến đến thế giới đại đồng.
2. PHỤ TỬ CANG
(Giềng mối Cha con)
Bổn phận làm cha:
Người xưa quy định:
“Vi nhơn phụ chỉ ư từ” (làm cha phải lành /
Tam tự kinh)
Chữ từ (lành) chỉ về nghĩa vụ làm cha mẹ,
phải nuôi con cho nên vai, nên vóc, dạy con cho nên người hữu dụng.
Người làm cha mẹ tuy lành, nhưng cũng phải
khuyên răn con vào đường đạo đức, cũng có rầy la một cách nghiêm khắc, nghĩa là
phải làm thế nào cho con bỏ cái dở, theo cái hay, chớ chẳng phải lành là chiều
theo ý con, muốn làm gì thì làm. Tại sao khi con còn bé người cha không để cho
con được tự do hành động? Bởi vì con còn thơ ấu, trẻ lòng, non dạ; đến một lúc
nào đó con trẻ lớn khôn thì sự tự do hành động trong chuẩn mực đạo đức của con
được người cha nới rộng trong sự quan sát, nhắc nhở đúng lúc.
Nói tóm lại là con chưa đủ sáng suốt, để
phân biệt phải quấy và chưa đủ tinh thần cứng rắn, để vượt qua những vật dục
cám dỗ. Ấy vậy nên người làm cha mẹ phải dìu dắt con trên đường đạo đức quang
minh.
Giáo dục gia đình là trách nhiệm và nghĩa
vụ của cha mẹ, là căn bản cho đạo xử thế
Đối với con cái, cha mẹ có thể phó thác cho
con cái nuôi dưỡng mình lúc về già, nhờ con cái giúp đỡ những việc nặng nề
"Dưỡng nhi đãi lão" (Nuôi con để nhờ lúc về già).
Thường tình thì người có lòng nhân không
những chỉ nuôi cha mẹ, mà còn tự nguyện nuôi dưỡng cả những người già yếu cô
đơn, nên đạo làm con đâu có thể khước từ nghĩa vụ nầy.
Cha mẹ muốn được vậy, trước hết phải làm
xong nghĩa vụ của mình, tức là nuôi con, dạy con cho nên người. Trái lại, nếu
cha mẹ không làm tròn bổn phận của mình mà bắt con phục vụ cho mình như thế là
bất công và không làm tròn bổn phận làm cha mẹ.
Đạo làm con
Người xưa quy định:
“Vi nhơn tử chỉ ư hiếu” (Làm con phải thảo/
Tam tự kinh).
Hiếu thảo là Đạo làm con, chẳng những không
ai được từ khước, mà ai cũng phải coi đó là bổn phận của mình nữa. Cổ nhơn có
câu đối:
“Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ,
Nhơn sanh bách hạnh, hiếu vi tiên"
(Năm có bốn mùa, xuân đầu tiên, người sống
có trăm nết, hiếu làm đầu).
Tại sao người ta phải hiếu với cha mẹ? Công
sanh thành dưỡng dục, kể sao cho hết, nào là chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm
ẵm bồng, ơn nghĩa của mẹ sâu thẳm như suối nguồn, rộng lớn như biển cả. Còn cha
lại phải dày công dạy dỗ, cực nhọc, tảo tần, dẫu trăm cay ngàn đắng, dầu vào
cảnh nguy nan, người cha cũng không từ, miễn là làm ra cơm tiền để nuôi con.
Nhân gian có câu:
Công cha như núi Thái sơn, Nghĩa mẹ như
nước trong nguồn chảy ra.
Công cha nghĩa mẹ như thế, thì thương mến
chưa đủ, mà nghĩa vụ làm con bắt buộc phải giữ tròn đạo hiếu.
Thực hành đạo hiếu, trước nhứt là nuôi cha
mẹ. Sự nuôi dưỡng ấy phải hết lòng thành kính, giàu nuôi theo giàu, nghèo nuôi
theo nghèo, ngoài miếng ăn, miếng uống, tấm áo, manh quần, còn phải hết lòng
vui vẻ trong phận sự, làm cho cha mẹ vui lòng. Một hôm Thầy Tử Du hỏi chữ hiếu,
Đức Khổng Phu Tử đáp:
"Ngày nay, người ta bảo chữ hiếu là
biết nuôi cha mẹ, nhưng xét kỹ lại thì giống chó ngựa kia cũng có người nuôi.
Nếu nuôi cha mẹ mà không kính, thì lấy gì để phân biệt với sự nuôi súc
vật" (Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu
dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ! / Luận ngữ - Vi chính)
Đạo Nho có câu:
“Thượng sự phụ mẫu, thần hôn chi tỉnh, cam
chỉ chi cung hậu bạc tùy duyên, hiếu kỉnh vi chủ” (Trên thờ cha mẹ, sớm thăm
tối viếng, thường cung phụng thức ăn uống ngon ngọt, nhiều ít, tùy theo khả
năng của mình, nhưng phải lấy hiếu kỉnh làm chủ/ Tây Viên gia huấn).
Nên phụng dưỡng cha mẹ không phải đợi giàu
có mới làm được, mà nhà nghèo làm được mới quý, nên cổ nhân có câu:
"Nhà nghèo mới biết con hiếu thảo,
nước loạn mới rõ bề tôi trung thành"(Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức
trung thần/ Minh tâm bửu giám).
Từ xưa những gương trung hiếu, tiết liệt,
phần nhiều xuất hiện trong lúc nhà nghèo khó, hoặc khi quốc gia loạn lạc.
Nên khi ở chung với cha mẹ, không nên làm
buồn lòng cha mẹ, nếu mình có việc buồn riêng, cũng chẵng nên tỏ ra sắc mặt để
cho cha mẹ thấy. Khi cha mẹ quở trách thì phải tự xét mình mà chừa lỗi, chớ
chẳng khá buồn phiền.
Cha mẹ già phải lưu ý đến chỗ họ không nói
được. Tại sao? Bởi vì có nhiều khi cha mẹ sợ con lo buồn, mà chẳng tỏ ra hết
lời. Sau đây là một gương thờ Mẹ của người xưa.
Một hôm, Bá Du bị mẹ đánh đòn, ngồi khóc
mãi mà không thôi. Mẹ hỏi:
- Mọi khi mẹ đánh con thì con biết lỗi mà
cam chịu, cớ sao lần nầy con khóc dai như thế?
Thưa mẹ:
“Mọi khi, mẹ đánh, con thấy đau; ấy là con
biết mẹ còn sức khoẻ. Lần nầy mẹ đánh, con không thấy đau lắm. Thế là con biết
mẹ đã yếu mà con khóc (Cổ Học Tinh Hoa).
Như vậy là Bá Du biết lo cho sức khoẻ của
mẹ.
Khi cha mẹ còn sanh tiền con chẳng nên đi
xa, nếu cần đi vắng thì phải cho biết chỗ, để người nhà tìm cho dễ, khi hữu sự.
Nên Nho gia có câu:
“Phụ mẫu tại bất khả viễn du, du tất hữu
phương”.
(cha mẹ còn, con không nên đi xa, nếu đi
nên cho cha mẹ biết chỗ - Luận ngữ/ Lý nhân)
Cha mẹ đau ốm, kẻ làm con phải tận tâm chạy
thuốc, chạy thầy, chính mình nên lo liệu mọi phương; nếu giao cho kẻ khác biết
đâu người ấy vì sơ sót, làm thêm bịnh cho cha mẹ mình. Bình nhựt cũng phải xem
chừng: Nếu cha mẹ khoẻ thì vui mừng, mệt thì lo lắng (xem gương Bá Du thờ mẹ đã
nói trên).
Lòng hiếu thảo làm người ai cũng sẵn có
trong lòng,nhưng lại có một đôi kẻ xao lãng là vì ham danh lợi hoặc chỉ lưu tâm
lo cho vợ con. Vậy kẻ làm con nên thận trọng bổn phận của mình.
Đạo hiếu không bắt buộc chúng ta phải nhắm
mắt tuân lời, mà trái lại, phải kiểm điểm việc cha mẹ đã làm: Nếu hay thì hết
lòng theo, còn lầm lạc thì nên khuyên can với một cử chỉ kính mến.
Đức Khổng Tử dạy rằng:
"Sự phụ mẫu cơ gián, Kiến chi bất
tùng, Hựu kỉnh bất di, Lao nhi bất oán" (Luận ngữ - Lý nhân).
Nghĩa là cách thờ cha mẹ: Nếu thấy cha mẹ
lầm lạc thì nên khuyên can với lời lẽ ôn nhu, lễ phép. Nếu thấy cha mẹ không
theo lời khuyên can thì con vẫn giữ lòng kính mến và không trái nghịch. Như cha
mẹ có khiển trách hoặc đòn roi cũng chẳng khá phiền hà.
Cha mẹ mất thì phải tận tâm báo hiếu. Cổ
nhơn bảo: "Tang tắc trí kỳ ai", việc tang chế phải hết lòng thương
xót.
Việc tang chế không nên xa xí; không nên
quàng linh cữu lâu ngày, không nên dùng Âm công lòe loẹt, không nên đãi đằng
rần rộ mà mất vẻ nghiêm tịnh, ai bi.
Đức Khổng Tử cho sự thờ cha mẹ rất hiếu là:
"Kính kỳ sở tôn, Ái kỳ sở thân, Sự tử
như sự sanh, Sự vong như sự tồn, Hiếu chi thỉ dã" (Luận ngữ/ Lý nhân).
Nghĩa là: Kính người mà cha mẹ đã trọng,
yêu người mà cha mẹ đã mến, thờ cha mẹ khi chết cũng như lúc sống, mất cũng như
còn. Ấy là hiếu ban đầu vậy.
Đại ý nói rằng khi Cha mẹ còn tại tiền thì
con tôn kính cử chỉ hành vi, mãi đến khi cha mẹ thác rồi, con cũng cứ tôn kính
như cha mẹ còn sống.
Ngoài ra còn phải lo tu dưỡng đạo đức để
trở thành người tốt, làm rạng danh cha mẹ là điều hiếu sau cùng:
“Lập thân hành đạo, dương danh phụ mẫu,
hiếu chi chung dã” (Luận ngữ/ Lý nhân).
Nên đạo làm con phải chuyên tâm trì chí
suốt đời, để thực thi đạo Hiếu cho thỉ chung như nhứt.
Bổn phận làm anh chị và bổn phận làm em
Nho gia khuyên rằng:
"Huynh tắc đễ, đệ tắc cung" (anh
thì nhường nhịn, em thì cung kính/ Tam tự kinh).
Anh em, chị em đồng thọ sanh nơi một cha
mẹ; bà Đoàn Thị Điểm khuyên rằng:
"Một cục máu chia phân mấy mảnh,
Hình hài em tượng mảnh thân con.
Chữ rằng huyết mạch đồng môn,
Riêng chưng thân thể tâm hồn cũng con"
(Nữ Trung Tùng Phận)
Đồng cốt nhục, đồng máu mủ, từ lúc nhỏ dại,
ở chung một nhà, ăn chung một mâm, nằm chung một chiếu, vui có nhau, buồn có
nhau, nhứt nhứt đều chung cùng. Vậy tình thương yêu ở giữa anh em, chị em không
tình nào khắn khít ruột thịt bằng tình ấy.
Muốn bảo tồn cái tình máu mủ ấy mãi mãi,
thì người anh người chị phải biết bổn phận mình là thương yêu, đùm bọc, che
chở, nhường nhịn đàn em, kẻ làm em phải biết bổn phận mình là cung kính, thuận
tùng.
Khi cha mẹ vắng mặt anh chị phải thay cha
mẹ: dạy dỗ, khuyên răn, gìn giữ em trong mọi cử chỉ, hành động. Mà muốn dùng
quyền người làm anh làm chị, phải làm xong nghĩa vụ của mình, là nuôi dưỡng dạy
dỗ em út. Cổ nhơn thường khuyên nhau rằng:
“Trước làm xong bổn phận rồi sau sẽ dùng
quyền hạng”.
Theo lẽ thường, khi thành nhơn, mỗi người
đều có gia tư. Mặc dầu xa cách nhau, nhưng anh em, chị em lúc nào cũng phải gìn
giữ cái tình cốt nhục của mình, nghĩa là luôn luôn hoài bão tình thương mến,
giúp đỡ, việc lớn cũng như việc nhỏ, mà muốn giữ vẹn sự thân mật, thì phải biết
nhường nhịn tha thứ, không nên cố chấp lẫn nhau.
Bổn phận của mình phải sáng suốt phân định
lẽ phải quấy ở giữa em chồng, chị dâu, em rể, anh vợ. Có lắm khi chỉ một việc
nhỏ mọn, mà có thể làm sứt mẻ tình ruột thịt, anh chị em tượng trưng cái hình
hài của cha mẹ, bất hòa là phá hại cái hình hài ấy. Anh chị em như thể tay
chơn, bất hòa là đoạn ly thủ túc.
Người nào xử tròn hiếu đễ nghiêm túc trong
gia đình, thì người ấy có tinh thần hòa ái, có lòng nhân. Hiếu thuận là gốc đạo
xử thế; người trọn thảo thuận trong gia đình thì tất có lòng thương yêu giống
nòi, trung thành với tổ quốc. Còn nếu người nào mà không tròn hiếu để, mà nói
là trung thành, thương yêu đồng loại là giả dối, mà nếu có chăng nữa, cũng chỉ
do động cơ danh lợi thúc đẩy mà thôi.
Bổn phận cháu chắt đối với Ông Bà:
Ông Bà là đấng sanh thành dưỡng dục mẹ cha,
lại là đấng mà cha mẹ kính trọng, thương mến. Đạo hiếu bắt buộc kẻ làm con phải
kính trọng ngay những người mà cha mẹ đã thâm giao. Thử nghĩ: Người bàng quan
còn phải xử trí như thế, huống chi ông bà là ruột thịt của cha mẹ mà chúng ta
không tôn kính?
Ấy vậy, khi ông bà sanh tiền, chúng ta phải
thay mặt cha mẹ mà trông nom, giúp đỡ những việc mà chúng ta có thể làm được và
khi ông bà quá vãng thì phải thay thế cha mẹ mà phụng thờ cúng tế.
Luân lý cổ truyền của người Việt Nam dạy
rằng: Ngày tế lễ, cả gia tộc hợp về nhà thờ, lo việc tế lễ hai ngày: Tiên
thường và Chánh giỗ. Những người họ hàng sum hiệp, vui vầy. Có khi nhắc lại sự
tích Tổ tiên, có lúc thăm hỏi việc hàn huyên gia sự. Giờ cúng tế, người người
có lòng thành kính. Khi ra vào, lúc lại qua trước bàn thờ, họ cúi đầu tỏ vẻ
kính trọng dường như ông bà đang ngự trên cho sở tôn. Giờ tế lễ, con cháu giữ
cảnh yên lặng, tôn nghiêm, người trưởng tộc hành lễ rồi con cháu cứ theo thứ tự
bái nghiêm túc.
Bổn phận đối vói Cậu, Cô, Chú, Bác
Cậu, cô, chú, bác là anh em ruột thịt của
cha mẹ, kẻ làm con chẳng những phải thân yêu mà còn phải kính trọng như cha mẹ
nữa. Nếu vô phước mà mồ côi, chính cậu, cô, chú, bác, là người thay mặt mẹ cha
mà dưỡng dục con cháu. Vậy kẻ con cháu không vì lẽ gì mà không thân yêu quý
mến.
Khi thành gia thất, tất nhiên bên chồng
cũng như bên vợ, ai ai cũng có cậu cô chú bác. Kẻ làm con cháu cũng phải quý
mến các đấng ấy.
3. PHU THÊ CANG
(Giềng mối vợ chồng)
Con người có một linh hồn bất tử thọ mệnh
từ Thượng Đế, nên tại cỏi trần về thân xác, con người tuy có phân ra ngôi thứ,
cha con chồng vợ, nhưng về phương diện linh hồn, tất cả đều là anh em với nhau.
Sự gặp gở của con người tại cỏi trần, đều do cơ duyên tiền định.
Nên sự kết hợp vợ chồng không phải là điều
ngẫu nhiên mà đối với thiên cơ đây là:
“Cơ sanh hóa càn khôn đào tạo,
Do âm dương hiệp đạo biến thiên.
Con người nắm vững chủ quyền,
Thay Trời tạo thế, giữ giềng nhơn luân
(Kinh hôn phối)”
Sự gặp gở giữa hai vợ chồng đều do Thiên ý:
“Ở trước mặt Hồng Quân định phận,
Đạo vợ chồng đã xứng nợ duyên”
Con người qua nhiều lần đầu thai chuyển
kiếp, đã tạo ra nhân duyên và nghiệp quả với nhau. Chính do những nhân duyên
đó, mà Thượng Đế đã chọn hai linh hồn kết hợp với nhau thành vợ chồng, tùy cơ
duyên tốt hay xấu, mà gia đình thường gặp hạnh phúc hay khổ đau, nhưng dù cho
hạnh phúc hay khổ đau, tức là “duyên hay nợ”, nếu người nào biết nắm cơ hội
trong cuộc sống vợ chồng để học hỏi, người đó sẽ lần đến chỗ hoàn thiện.
Vì không có sự giao thiệp nào hiến một cơ
hội đặc biệt như tình vợ chồng, để có dịp tìm hiểu người khác cũng như tự hiểu
lấy mình.
Khi con người đã nhìn nhận được mục đích
cao siêu giữa sự hợp tác vợ chồng, thì cuộc sống gia đình sẽ giúp cho mỗi người
hoàn thành một thiên chức mới, và những sự kiện xảy ra trong gia đình vui hay
khổ, cũng cho ta những kinh nghiệm để khám phá ra những cái mới mẻ trong cuộc
sống. Nếu ta hiểu biết thì mặt nào cũng đều có lợi. Nên Socrate đã nói rằng:
“Nếu anh gặp vợ hiền thì anh hạnh phúc, còn
gặp vợ dữ thì anh sẽ thành một triết nhân”.
Theo đạo lý thì hai linh hồn kết hợp với
nhau đều có một sứ mạng: Sứ mạng kẻ làm chồng và sứ mạng người làm vợ. Hai sứ
mạng nầy ngang nhau, không bên nào khinh bên nào trọng cả.
Sự kết hợp vợ chồng là để giúp đở cho mình
là “duyên”, hoặc để nhờ mình giúp đở đền đáp là “nợ”. Cho nên người đời có câu:
“Sự gặp gở giữa hai vợ chồng là do duyên
nợ”.
Cổ nhân cũng có câu:
“Vô oan trái bất thành phu phụ” (Không có
nợ nần vay trả thì không thành vợ chồng).
Nhưng dù cho duyên hay nợ, hạnh phúc hay
khổ đau xảy ra trong gia đình, mà hai vợ chồng hiểu biết được đạo lý, đối đãi
với nhau trong sự “kính trọng và thương yêu”, thì họa cũng chuyển thành phước,
bất hạnh cũng biến ra hữu hạnh. Vì theo đạo lý thì sự hợp tác vợ chồng là để
phụng sự thiên cơ đó là cơ tấn hóa.
Như vậy đời người, nam nữ lớn lên thường
lập gia đình có đôi bạn. Ăn ở với nhau từ tóc xanh đến đầu bạc, tạo ra giềng
mối “vợ chồng” tức là Phu thê cang. Cái định luật ấy, xưa nay vẫn không thay
đổi, trừ một số ít cá biệt sống độc thân mà thôi. Gia đình ban đầu là sự kết
hợp giữa đôi vợ chồng, rồi dần dần có thêm con cháu kế tiếp nhau để duy trì nòi
giống. Nên gia đình là nơi hội tụ của nhiều linh hồn, nhiều thế hệ. Sự gặp gở
nầy không phải ngẫu nhiên, mà do nhân duyên mỗi người, đến rồi đi, trong thời
gian dài hay ngắn, để giúp đở lẫn nhau.
Do đó gia đình là một trường tấn hóa, mỗi
thành viên đều có bổn phận giúp đở che chở lẫn nhau để đạt đến hoàn thiện. Nên
có thể nói mái ấm gia đình là nơi nương náu của trẻ thơ, là trạm dừng chân nghỉ
ngơi cho trai tráng, là thành lủy nương náu cuối cùng của tuổi già, nên gia
đình là một tiểu xã hội.
Trong gia đình người chồng là rường cột,
phải đảm đương mọi việc bên ngoài, vợ là phụ tá, đóng vai trò nội trợ để tạo
hạnh phúc cho nhau. Cho nên người chồng ngoài vấn đề lo sinh kế còn có trách
nhiệm khuyên bảo vợ con. Người xưa có câu:
"Giáo phụ sơ lai, giáo tử anh
hài" (Dạy vợ lúc mới về nhà chồng, dạy con lúc còn thơ ấu/ Nhan thị gia
huấn/ Giáo tử)
Muốn dạy người, không phải chỉ nói suông mà
trước phải sửa mình cho ngay chánh, để làm gương mẫu đạo đức cho vợ con noi
theo. Tiên Nho có câu:
“Dục tề kỳ gia, tiên tu kỳ thân” (Đại học).
Người chồng nên biết rằng vợ là bạn trăm
năm của mình. Đàn bà là người yếu đuối, nương dựa nơi mình, trao thân gởi phận
cho mình, để cùng nhau lo việc gia thất. Hơn nữa, vợ chồng là người đầu ấp, tay
gối, vui chung vui, buồn chung lo, nghèo chung chịu, giàu chung hưởng. Lòng có
nghĩ được như thế thì mới có dạ yêu thương, dùm bọc.
Vợ chồng có bổn phận khuyên bảo lẫn nhau,
nhưng trước phải làm xong nghĩa vụ của mình, rồi sau mới khuyến bảo người khác.
Tuy nói rằng có bổn phận khuyên bảo nhau, nhưng lúc nào cũng lấy tinh thần hòa
ái làm cốt. Nghĩa là có khuyên lơn lẫn nhau, thì cũng chi trong vòng lễ giáo
kính mến; chớ chẳng khá gây gổ nặng lời, như kẻ võ phu. Người xưa khuyên:
“Phu thê tương kính như tân” (Vợ chồng kính
trọng nhau như người khách quý – Gia ngữ).
Người chồng đừng nên có thói gia trưởng, ỷ
thị mình ra ngoài, làm ra của cải vật chất, trong lúc vợ ở nhà chăm lo nội trợ,
mà xử sự hẹp hòi với vợ con – tính toán chi ly với vợ con từng đồng xu từng cắt
bạc. Bà Đoàn Thị Điểm khuyên con trai rằng:
“Con chớ ỷ mình là nam tử,
Chiếm chủ gia hẹp xử thê nhi.
Đừng xem ra phận tiện tỳ,
Quyền trong nội trợ cũng bì đồng nhau”
[Nữ Trung Tùng Phận]
Người chồng phải vẹn giữ thỉ chung, dù lúc
cơm thô áo vải, hay lúc quyền quý cao sang, vẫn trước sau như một, đừng làm như
thói đời thường tình:
“Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”.
Bà Đoàn Thị Điểm khuyên rằng:
“Nếu khổ cực chung cùng chia sớt,
Dầu sang vinh đừng bớt tình nồng.
Hễ là vào đạo vợ chồng,
Nên hư đều có của ông công bà”
[Nữ Trung Tùng Phận]
Người vợ phải có tinh thần thuận tùng,
nghĩa là phải biết dung hòa với chồng, để tạo hạnh phúc gia đình. Nhân gian có
câu khuyên người làm vợ rằng:
“Chồng giận thì vợ bớt lời,
Cơm sôi bớt lửa, nghìn đời chẳng khê”.
Người vợ phải biết nhường nhịn chồng và gia
nương, giữ gìn hòa khí trong gia đình, để gia đình yên vui.
Phận gái dù có giàu sang cũng không nên ỷ
thị hiếp đáp gia đình chồng. Kinh Sám hối khuyên rằng:
“Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,
Không kiên chồng khi dể công cô.
Ấy là những gái hung đồ,
Xúi chồng tranh cạnh hồ đồ sân si.
Tánh ngang ngạnh không vì cô bác,
Thói lăng loàn bạn tác khinh khi.
Ngày sau đọa chốn âm ty,
Gông kèm khảo kẹp ích gì rên la.
(Kinh Sám hối, câu 57-64)
Chén bát trong sóng (củi chén) còn động
huống chi vợ chồng ăn ở với nhau cả đời, làm sao tránh khỏi một đôi khi bất
đồng ý kiến, động chạm lẫn nhau. Tỉ như có trường hợp ấy xảy ra, thì vợ chồng
nên nhường nhịn lẫn nhau. Nếu khi có những bất hòa xảy ra, thì chồng nói vợ nên
lắng nghe, vợ nói chồng cũng phải lắng nghe; phân trần điều hơn, lẽ thiệt cho
rõ ràng. Tôn trọng lẫn nhau, để hòa thuận trong vòng lễ nghi đạo đức; điều đó
là tốt nhứt; chẳng nên bắt chước phường hổn ẩu chồng một lời đi, vợ năm bảy
tiếng lại. Thế rồi sinh việc bất hòa; mà chồng vợ bất hòa thì gia đình tan nát.
Trong gia đình nếu có tình huống gì bất
thường xảy ra, thì chuyện lớn xem như nhỏ, chuyện nhỏ xem như không có gì, cùng
nhau lấy yêu thương mà giải quyết mâu thuẩn và tìm kiếm sự thỏa hiệp thì gia
đình êm ấm. Đó là một gia đình hoàn toàn đạo đức, danh ngôn Tây Phương có câu:
“Tình yêu luôn luôn hợp đạo đức, kể cả khi
thiếu hôn nhân, nhưng hôn nhân mà thiếu tình yêu là vô đạo đức” (Enllen Key)
Phận gái trọng nhứt là trinh tiết, người
chồng trọng nhứt là chung thủy, tiết nghĩa; bởi vậy mỗi người – vợ cũng như
chồng, phải giữ gìn mỗi ngày tránh sự hiểu lầm nhau, để vun bồi lòng tin tưởng
lẫn nhau. Tục ngữ nói:
"Đi ngang đám dưa không nên sửa dép,
Đi ngang cây lý không nên sửa mũ".
Tức là không tạo ra bối cảnh để có thể gây
hiểu lầm, đại ý câu nầy khuyên người ta để ý từng hành vi, ăn nói, đi đứng
đường hoàng, nhứt là phải tránh những cử chỉ nào làm cho người khác ngờ vực,
cũng như đi ngang đám dưa thì không nên sửa dép, hoặc đi ngang giàn lý thì
không nên sửa mũ, vì làm như thế, người ta sẽ ngờ rằng mình bẻ trộm dưa, hay
hái trộm lý. Nhất là vợ chồng, nên tránh những cử chỉ hành động tạo ra sự nghi
ngờ cho nhau, làm mất hạnh phúc.
Tề gia nội trợ là thiên chức của người phụ
nữ; cho nên người vợ cần lưu tâm chăm nom việc nhà: Thiếu đủ phải biết, còn hết
phải hay, sắp đặt an bài mọi sự; ăn cần, ở kiệm phải trọng tiền của chồng làm
ra. Ăn nhịn qua ngày, ăn vay mắc nợ. Của chồng công vợ, chồng vợ chung lo tạo
hạnh phúc gia đình.
Người vợ nên biết rằng sự thuận tùng cũng
là một cách chỉ huy khéo léo, nên một triết gia Tây phương nói rằng:
− Đàn bà hoàn toàn thấy rõ rằng họ càng
vâng lời bao nhiêu thì họ càng chỉ huy bấy nhiêu. (Jules Michelet)
Người phụ nữ như vậy, sẽ xây dựng gia đình
thành một tổ ấm cho nhiều thế hệ - là nơi nương náu cho trẻ thơ, là trạm dừng
chân nghỉ ngơi cho trai tráng, là thành lũy cuối cùng của tuổi già.
Tóm lại: Đạo vợ chồng cần nhứt là thuận
hòa, Nhân gian có câu:
“Thuận vợ, thuận chồng tát biển đông cũng
cạn”.
B. NGŨ THƯỜNG:
(Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín)
1. NHÂN:
Con người ai cũng bẩm thọ điểm linh quang
của Đức Thượng Đế, để làm tự tánh của mình. Cổ nhân cho Tánh ấy là Mạng Trời,
hay Thiên lý. Mạng Trời thì lặng lẽ, trầm mặc ẩn tàng trong cõi lòng thanh
tịnh; nhưng khi phát động trúng tiết – Phù hợp với tình huống, thì đó là
"Nhân". Bởi Thiên lý phát động là "Nhân" cho nên đức
"Nhân" gồm đủ tất cả tính tốt, hạnh lành như: trung, hiếu, tiết
nghĩa, cung, khoan, mẫn, huệ, cương, nghị, mộc (thật thà), nột (ít nói). Người
nào giữ được đức "Nhân" và thể hiện đức "Nhân" khi xử thế,
tiếp vật thì đó là làm xong đạo làm người (Nhân giả, nhơn dã). Đức Khổng Phu Tử
nói rằng:
"Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng
nhân" (Kinh Dịch/ quẻ Càn - Văn ngôn).
Nghĩa là người Quân tử lấy đức
"Nhân" làm thể, thì đủ làm trưởng thành mình.
Người có "Nhân" lúc nào cũng an
vui, ung dung, tự tại, bình tĩnh, trầm lặng, mà luôn luôn trong lòng sẵn có một
cái khiếu "Trực giác" mẫn huệ. Việc đến, họ biết với một cách mau
chóng toàn diện. Họ làm việc cũng thích hợp đạo lý, họ thật thà, chất phác, nhưng
giàu tình cảm tốt lành. Đối với gia đình họ hiếu để, đối với xã hội, họ thuận
hòa; đối với vật, họ thương yêu giúp đỡ, làm cho vạn vật phát triển hài hòa.
Việc lợi danh ở đời, họ không lánh hẳn, nhưng chẳng bỏ đạo đức để cầu lợi danh.
Đạo đức với lợi danh, nếu phải bỏ một, thì họ vui lòng bỏ lợi danh, cầu đạo
đức. Lòng nhân người đời nay còn gọi là bác ái, nó đứng đầu các đức tính khác.
Đức Chí Tôn dạy rằng:
“Nhơn là đầu hết các hành tàng”
(Thi văn dạy đạo)
Một Chơn sư cũng dạy rằng:
“Trong các đức tính thì hạnh bác ái là quan
trọng hơn hết, nếu không có hạnh bác ái thì các đức tính khác không bao giờ đầy
đủ” (Krishnamurti /Dưới chân Thầy).
Trương Hoành Cừ là người Trung Hoa sanh vào
khoảng (1020-1076) cho rằng: Lòng Nhân ái phải có thứ bậc, ông nói:
Tôn người già cả là sở dĩ tỏ lòng kính
trọng kẻ tôn trưởng, yêu thương trẻ dại là sở dĩ tỏ lòng bênh vực kẻ yếu hèn,
tôn người có đức độ hợp với lẽ Trời đất là bậc Thánh và kẻ có đức độ hơn người
là bậc Hiền. Còn những người tàn tật, quan quả, cô độc, đều là anh em với ta
cả. Như thế, tuy người ta có tôn ti khác nhau, nhưng ai ai cũng phải đem lòng
thương xót để cư xử với nhau như anh em một nhà. (Nho giáo Trọng Trọng Kim).
Đại ý câu nầy nói lên được điều
"Nhân" là tình thương yêu có thứ bực, nhưng phải trùm cả vạn vật, vì
đức Nhân là phản ảnh đức Hóa sanh của Thượng Đế.
Thực hành đạo "Nhân" cũng cần có
học hỏi, bởi vì có Trí sáng mới có thể phân biệt được thiện ác, phải quấy. Tử
Hạ nói rằng:
"Bác học nhi đốc chi; Thiết vấn nhi
cận tư. Nhân tại kỳ trung".
(Luận ngữ/ Học nhi)
Nghĩa là: Sự học hỏi phải rộng rãi, chí
hướng phải dày dặn, sự hỏi han cần thiết, sự suy nghĩ phải có dính dấp với
mình. Trong những việc ấy hẳn có hàm súc đức "Nhân" vậy.
Thế đủ rõ rằng đạo "Nhân" cần có
Trí để phân biệt phải quấy, có Dũng để mạnh dạn thực hiện sự thương yêu và giúp
đỡ người cho phải chỗ và đúng mực, đúng lúc. Đó là mối đầu mà cổ nhân nương
theo để thành lập cái thuyết "Tam đạt đức" (Nhân Trí Dũng). Cho nên
khi thực hành điều nhân, cũng cần phải giữ quân bình giữa tình cảm và lý trí.
Tây Phương có câu danh ngôn:
“Có những mối cảm xúc cao thượng đầy lòng
nhân ái, nhưng lại không hợp lý, không khôn ngoan tý nào. Nếu chúng ta hành
động theo đó, thì là một sự điên rồ đáo để”. (Trước thềm Đạo – Sur Le Seul).
Đức Khổng Phu Tử nói:
“Trí giả nhạo thủy, Nhân giả nhạo sơn; Trí
giả động, Nhân giả tịnh, Trí giả lạc, Nhân giả thọ (Luận ngữ/ Ung giả)
Nghĩa là người “Trí” thích nước, người
"Nhân" thích núi; Trí giả thì động (như nước lưu thông), người
"Nhân" thì an tĩnh (như núi đứng một chỗ). Bởi vậy người trí thì vui
sướng, người nhân thì sống lâu. Nhờ an tịnh mà người "Nhân" giữ được
Thiên lý lưu hành trong tâm, để làm chủ tể cho đời sống của phàm thân.
Đức "Nhân" chẳng phải hàm súc đủ
mọi hạnh lành, đức tốt, mà là cái phản ảnh đức háo sanh của Thượng Đế nữa. Về
phương diện nầy "Nhân" khởi đầu tại lòng thương xót (Trắc ẩn chi
tâm), nên người ta thường dùng chữ "Ái" kèm theo, thành danh từ kép
“Nhân ái” để diễn tả sự thương yêu được đầy đủ.
Làm người khi học hành, trước nhất phải ưu
tiên học và thực hiện điều nhân, sau đó mới học và thực hành đến các vấn đề
khác. Nên Nho gia khuyên rằng:
"Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn
nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân Nhân. Hành hữu dư lực, tắc hữu học văn (Luận
ngữ/ Học nhi).
Nghĩa là: Người đệ tử trong gia đình thì
hiếu với cha mẹ, ngoài xã hội thì kính người trên trước, làm việc thì cẩn mật,
ăn nói chắc thật, rộng thương mọi người, thân cận với người nhân đức. Làm bao
nhiêu đó, nếu còn dư sức thì mới học đến văn chương, nghề nghiệp.
Chữ "Nhân" (仁) người xưa cắt
nghĩa rằng: "Nhân" gồm có một chữ "Nhơn" (人) là người, Một chữ
"Nhị" (二)
là hai. Đại ý Nhân là tình cảm ở giữa hai người.
Tỉ như tình thương thiêng liêng ở giữa
người mẹ và đứa con, người mẹ có thể liều mạng sống của mình để cứu con trong
cơn nước lửa. Hoặc giả tình thương giữa hai vợ chồng, người chồng có thể hi
sinh mình để giúp vợ, ngược lại người vợ cũng hi sinh như vậy để giúp chồng.
Nên lưu ý rằng tình thương ở giữa hai người
phải nhắm vào sự "vị tha", nghĩa là vì người mà thương. Trái lại, nếu
thương người để cầu lợi cho mình thì sự thương ấy không phải là
"Nhân". Đại sư Vivekananda nói rằng:
- Tình yêu chân thật là tình yêu không biết
mặc cả. Nơi nào có chuyện tìm kiếm một sự trả giá, thì không thể có tình yêu
chân thật. (Vivekananda - Tôn giáo là gì).
- Tình yêu không cần biết phần thưởng là
gì. Đừng hỏi điều gì báo đáp cho tình yêu của bạn, hãy để địa vị của bạn luôn
là kẻ cho. Hãy dâng tình yêu bạn cho Thượng Đế, đừng đòi hỏi điều báo đáp, dầu
là từ Ngài (Vivekananda /Tôn giáo là gì).
Tình thương không chỉ giới hạn trong sự tôn
trọng người với người, mà phải lan tỏa đến tất cả chúng sanh:
"Chim khôn biết kiếm đậu cây lành,
Người thiện phải ngừa đức háo sanh.
Tôn trọng người như Trời với Phật,
Thương yêu tất cả chúng sanh thành".
(Thánh ngôn/ Thi văn dạy đạo)
Phương pháp thực hành:
Có người hỏi phương thức thực hiện điều
Nhân. Đức Khổng Phu Tử nói rằng:
"Kỷ dục lập nhi lập nhơn; kỷ dục đại
đạt nhơn. Năng cận thủ thí khả vị Nhân chi phương giả dĩ" Luận ngữ/ Ung dã
XXVIII).
Nghĩa là người Nhân hễ muốn mình lập thân
thế nào thì cũng giúp người cùng lập thân như mình. Mình muốn thông đạt đến đâu
thì cũng giúp người cùng thông đạt như mình. Hễ xử với mình thế nào thì cũng xử
với người chung quanh như thế ấy; điều đó là làm "Nhân" vậy.
Các đệ tử hỏi Đức Khổng Tử về Nhân, Ngài
tùy theo trình độ mỗi người mà trả lời như sau:
- Thầy Tử Trương hỏi "Nhân", Đức
Khổng Phu Tử nói:
"Hãy làm năm điều nầy trong thiên hạ
là "Nhân" rằng:
Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ. Cung thì không
khinh lờn, Khoan thì được lòng người, Tín thì được người tin cậy, Mẫn thì có
công, Huệ có ơn thì đủ khiến được người". (Luận ngữ/ Nhan Uyên)
- Nhan Hồi hỏi Nhân, Đức Khổng Phu Tử nói
rằng:
"Khắc kỷ phục lễ vi Nhân" (Sửa
mình theo lễ là "Nhân" tức bỏ hết lòng tư dục để hành động theo Thiên
lý / Luận ngữ - Nhan Uyên , XII)
- Phàn Trì hỏi "Nhân" Đức Khổng
Phu Tử nói rằng:
"Ái nhơn: Thương người” (Luận ngữ -
Nhan Uyên , XII)
Sách Luận Ngữ chép rằng Đức Khổng Phu Tử
trả lời cho mỗi người một khác; ấy là Ngài tùy yếu điểm của từng đệ tử mà bổ
khuyết.
Đức "Nhân" sẵn có ở nơi người,
nhưng tại sao lại có người không làm được?
Đó là do sự ganh ghét đố kỵ, làm trái đức
"Nhân", nên khiến lòng nhân mất đi. Giả tỉ khi cha con ghét nhau thì
mất lòng từ hiếu, chồng vợ ghét nhau thì mất thuận hòa, anh em ghét nhau thì
mất kính nhường, người trong thiên hạ ghét nhau thì kẻ mạnh hiếp yếu, kẻ dữ lấn
người hiền.
Bởi vì, lòng người không bao giờ có hai
tình cảm một lượt. Hễ có ghét thì không thương; hoặc có thương thì không ghét.
Ấy vậy nên chúng ta cứ mở rộng lòng thương, thì tự nhiên lòng ghét không xen
vào được, cũng như có hòa bình thì không chiến tranh vậy.
Đức Khổng Phu Tử lấy đức "Nhân"
làm căn bản cho đạo làm người, rồi tùy tình cảm mà ứng xử, cứ ung dung theo
Thiên lý mà hành động, chớ không cố chấp điều gì. Thế nên đứng vào cảnh ngộ nào
cũng an vui; không nghịch cảnh nào làm mất tư cách người quân tử.
NGHĨA:
Về tâm học "Nghĩa" là phương pháp
giúp cho kẻ học đạt thành đức. Về luân lý học, "Nghĩa" là lẽ phải
giúp cho kẻ học hoàn thành bổn phận làm người, hoặc nói cách khác
"Nghĩa" là cụ thể hóa lòng Nhân thành hành động.
Về thực tế Nghĩa là giúp đỡ người khác
trong cơn hoạn nạn, khốn khó. Ở đây, hai chữ "Nhân" có nghĩa là
thương người, và "Nghĩa" có nghĩa là giúp người. Nên “nhân nghĩa”
thường đi đôi với nhau, thành một danh từ kép, mới bộc lộ được cả tư tưởng và
hành động đi đôi, nếu có “Nhân” mà không có "Nghĩa" thì đạo đức thiếu
thực tế; còn như có "Nghĩa" mà không có “Nhân” thì đạo đức thiếu tinh
thần. Tỉ như chúng ta có lòng thương người lâm nạn, nhưng không ra công, hoặc
ra của, để cứu giúp, thì lòng nhân không được thể hiện bằng hành động. Ngược
lại, nếu ra công, ra của để giúp đở, mà chẳng có tình thương, thì đó là một do
một động cơ danh lợi nào khác, chớ không phải do bởi lòng Nhân.
LỄ:
Lễ trước dùng để tế tự, sau lan rộng đến nề
nếp xử sự, tiếp vật mà nhân quần xã hội thừa nhận. Chữ "Lễ" lại đồng
thể với chữ Lý; cho nên nó phải tùy thời mà biến đổi, càng ngày càng tốt hơn,
chớ chẳng nên cố chấp mà phải sa vào sự lạc hậu.
Về phương diện tế tự, Lễ có mục tiêu thứ
nhất là làm cho đàn tế được trang nghiêm; mục tiêu thứ nhì là đào tạo, hướng
con người tới một tâm lý Thành và Kỉnh (kính trọng). Có Kính thì mới giữ được
sự nghiêm túc của mình, có Thành mới cảm ứng được với Trời. Đó là Lễ giúp người
tồn tâm dưỡng tính.
Theo sách Lễ Ký: Lòng người ta lúc nào cũng
ham muốn sự ăn uống, tình dục, sợ nghèo khổ và cái chết. Nếu người ta không
nghĩ đến Lễ thì Thiên lý sẽ bị tiêu diệt, nên "Lễ" giúp người ta giữ
vẹn Thiên lý.
Nói giữ gìn "Lễ" thì khi đi,
đứng, nằm, ngồi lúc nào cũng không nên cẩu thả, lờn dễ. Thường nhật xử sự thì
cung (cẩn trọng), làm việc thì kính (lễ phép), giao thiệp thì lòng thành (thành
thật). Ba điều cung, kính, thành ấy, dầu ở chung với kẻ thất phu hạ tiện cũng chẳng
khá lãng quên. Đức Khổng Tử dạy:
“Xuất môn như kiến đại tân, Sử nhân như
thừa đại tế” (Luận ngữ, Nhan uyên XII/II).
Nghĩa là ra khỏi cửa thì tác phong, ăn mặc
nghiêm túc, như tiếp vị khách quý; sai khiến kẻ dưới thì trang nghiêm cẩn trọng
như chủ trì một cuộc tế lễ lớn, Nhứt cử, nhứt động, đều phải có "Lễ",
đó là người lịch sự. Hành vi, lời nói và tư tưởng, mỗi mỗi đều có trước sau, là
người có tiết khí.
Trên trường giao tế, "Lễ" phải có
“Nghi” làm hình thức. Nên hai từ “Lễ nghi” thường đi đôi thành danh từ kép. Tỉ
như chúng ta gặp người trưởng thượng, thì chúng ta đem lòng cung kính, đó thuộc
về Lễ, rồi chúng ta nghiêng mũ cúi chào, tỏ lòng kính ra ngoài, đó thuộc về
nghi thức. Thế nên nói: “Nghi tùy Lễ mà chế”. Hai chữ "Lễ Nghi" thiếu
một thì không thành qui tắc. Tỉ như chúng ta có sự kính trọng trong lòng, mà
không nghiêng mũ cúi chào, thì lòng cung kính không chỗ tỏ rõ ra bên ngoài, ai
làm sao biết được lòng mình cung kính. Trái lại, trong lòng không kính mà bên
ngoài làm ra vẻ cúi chào. Nghi mà không lễ thì đó chỉ là hành động giả dối khô
khan mà thôi.
Lễ nghi dùng để thể hiện nhân cách và phân
định ngôi thứ, tôn ti, thượng hạ. Tỉ như trong một cuộc hội đàm, người lớn cứ
ăn nói lỗ mãng, hành động sỗ sàng, kẻ nhỏ thì hổn ẩu không kính nể người lớn.
Thế thì làm sao mà hiệp hòa nhau được, cho nên nói rằng: “Thất Lễ” thì loạn.
Lễ về giới hạn giữa nam nữ:
Ranh giới giữ nam nữ thời xưa, yêu cầu
tương đối khắc khe. Nam nữ gần đến tuổi trường thành thì giao tiếp phải cách
biệt, dù anh chị em, cha và con gái, mẹ và con trai, ông gia và dâu, bà gia và
rễ, kể cả những người giúp việc nam nữ... Ở chung một nhà, phải cách biệt, ở
riêng phòng, không được nằm chung một giường, không ngồi chung một ghế, ăn uống
không chung một tô chén, tiếp xúc phải có một khoản cách nhứt định, không được
động chạm, cọ quẹt vào quần áo da thịt của nhau.
Trong cửa đạo ngày nay còn khắc khe hơn,
nam nữ phải cách biệt, thường nhật nam ở đông lang (nhà phía đông chùa) nữ ở
tây lang (nhà phía tây chùa), khi cần tiếp xúc phải công khai, luôn có mặt
người thứ ba, không được tiếp xúc riêng tư, thầm kín giữa hai người trong khuôn
viên tu hành.
Các giới hạn trên nhằm ngăn ngừa những cảm
xúc xấu, dẫn đến hành động sai trái, tội lỗi. Vì trên phương diện vật lý, dòng
nhân điện nam thuộc dương, dòng nhân điện nữ thuộc âm, âm dương gần nhau thì
thu hút như nam châm với sắt, nếu không có một khoản cách nhất định. Nên người
xưa đã nhận định “nam nữ thụ thụ tắt thân” (thân thể nam nữ gần nhau ắt sinh
thân thiết), nên mới ngăn cấm “nam nữ thụ thụ bất thân” (nam nữ dù gần nhau
nhưng không được thân thiết). Vì vậy trong sách giải kinh Lễ có viết:
“Tác dụng giáo hóa của lễ nó luôn thấp
thoáng ẩn hiện không thấy được, trong khi tội ác chưa kịp hình thành, chính lễ
đã góp phần khống chế nó, khiến con người càng ngày càng đi vào con đường lương
thiện, xa rời tội ác, mà bản thân cũng chưa nhận ra” (Nguyên văn: Cố lễ chi
giáo hóa dã vi, kỳ chi tả dã vu vị hình, sử nhân mục đồ thiện viễn tội nhi bất
tự tri dã”).
Khi hình thành một loại lễ chế nào, đều có
bối cảnh và nguyên nhân của nó cả. Kinh nghiệm nhân loại trong thời kỳ tiền sử,
đã sinh hoạt tụ cư, khi bước sang xã hội văn minh, họ tự nhân thấy tình trạng
không phân biệt nam nữ đã xảy ra nhiều tội ác và nhiều vấn đề khiến trật tự xã
hội rối loạn. Vì vậy mới có những yêu cầu khắc khe của lễ, sau khi có lễ chế
quan hệ giữa nam nữ trong gia đình, cũng như ngoài xã hội sẽ bình thường, như
vậy sẽ tạo được một gia đình có trật tự, hài hòa, một xã hội ổn định.
Tác dụng của Lễ chế trong các tình huống
bình thường lại không nhận ra được. Nhưng dù không nhận ra tác dụng của nó,
hoặc cho đó là sự hạn chế không cần thiết, mà hủy bỏ phá hoại nó đi, thì nam nữ
không còn cách biệt. Do tình trạng tiếp xúc quá gần gũi thân mật, không có
khoản cách biệt nhất định, thì tình trạng dâm dục thác loạn sẽ tràn ngập, đến
khi nó trở thành vấn đề vi phạm đạo đức nghiêm trọng, dù có muốn vãn hồi cũng
không còn kịp nữa. Nên nhiều nhà tâm lý học cho rằng, thà chấp nhận sự phê bình
chỉ trích Lễ chế cổ đại là nghiêm khắc, bảo thủ, lạc hậu, không thông thoáng.
Nhưng chúng ta nên một mực khẳng định là vẫn cứ duy trì sự ràng buộc của lễ đối
với nam nữ. Có thể nói đây là một quyết định sáng suốt, thấy được cái lớn mà
giữ lại cái nhỏ. Những chỗ nầy cũng chính là bài học cũng đáng để cho chúng ta
ngày nay phải lưu tâm suy nghĩ.
Giới huyền môn có bí pháp cầu nguyện, để
ngăn chặn tà tâm: Khi đứng trước mặt một người khác phái, hãy nhìn ngay trái
tim họ và cầu nguyện:
“Cầu xin Ơn Trên ban cho anh tôi (chị tôi,
hay em tôi), luôn đoan chánh, tinh tấn với tấm lòng từ thiện”
Làm như vậy tà tâm hai bên sẽ không nhen
nhóm lên được.
Học "Lễ" không phải khó khăn, như
có người lầm tưởng. Bởi vì "Lễ" thuận lòng người mà tỏ ra, chớ không
phải cưỡng bách. Cổ nhơn thường khuyên nhau:
“Trước học lễ rồi sau mới học văn” (Tiên
học lễ, hậu học văn/ Minh tâm bửu giám),
Tức là trước tiên học đạo lý lễ nghi, rồi
sau mới học đến các môn văn hóa khác. Luật pháp dùng để răn người phạm tội. Lễ
nghi để ngăn những biểu hiện xấu, những tình huống thiếu tôn ti trật tự. Thường
tình người ta sợ luật hơn sợ lễ, đó là tại luật có hình phạt kèm theo, nên ít
ai phạm; còn lễ thì chỉ khuyên lơn, răn dạy, nên những người nào ít học hay bị
vi phạm, thì chỉ bị người đời chê cười mà thôi.
Người nào gìn giữ từ hành vi, lời nói và tư
tưởng mỗi mỗi điều thích trung dung, ấy là người có lễ độ. Tóm lại:
"Lễ" mực thước để đo lường tư tưởng, lời nói và hành vi trong khi xử
thế, tiếp vật. Đức Lão Tử nói rằng:
“Khi thất Đạo mới theo Đức, khi thất Đức
thì mới theo Nhân, khi thất Nhân mới theo Nghĩa, khi thất Nghĩa thì nên theo
Lễ” (Đạo Đức Kinh).
Vậy chúng ta có thể nói rằng kẻ học theo Lễ
để trở về với Nghĩa, theo Nghĩa để trở về với Nhân, theo Nhân để trở về với Đức
và theo Đức trở về với Đạo. Nên lễ là bước đầu là nền tảng của các đức tính
khác.
TRÍ:
Trí là năng lực hiểu biết Người ta nhờ Trí
để biết phân biệt phải quấy, lành dữ. Người Trí biết đạo đức và lần hồi hoán
cải việc dở thành hay, điều ác thành điều thiện và mỗi ngày mỗi làm cho mình
được tăng thêm phẩm hạnh, nhưng lý trí phải đi đôi với trực giác:
“Lý trí của người ta dẫu minh mẫn thế nào,
cũng có giới hạn, không hiểu biết được nhanh và sâu xa như trực giác. Có lắm
điều cứ để tự nhiên theo trực giác thì biết rõ ngay được, mà dùng lý trí để suy
xét, thì nghĩ ngợi mãi mà không ra manh mối. Là vì những sự biết mẫn tiệp và
sâu xa là thường do trực giác, chứ không phải do lý trí. Song khi đã biết điều
gì rồi, tất phải dùng lý trí mà kiểm soát lại, để biết cho rõ những điều đã do
trực giác mà biết.
Lý trí là năng lực suy luận để hiểu biết sự
việc tính chất, hình thể bề ngoài bằng những định nghĩa, mà không thể biết được
cái tinh thần linh hoạt trong các sự vật ấy ẩn tàng bên trong. Vậy nếu ta bỏ
trực giác là cái biết của tâm, mà chỉ chuyên dùng lý trí để suy luận, thì
thường hay làm cho ta sai lầm, cho nên người ta cho rằng trực giác vượt trước
xa lý trí là vậy” (Nho giáo Trần Trọng Kim).
Muốn thành người Trí, chúng ta phải học
hành rộng rãi, quán thông. Nho gia dạy rằng:
“Học cho rộng, hỏi cho cặn kẽ, suy nghĩ cho
thật cẩn thận, phân biện cho sáng tỏ, thực hành cho thiết thực. Không học thì
thôi, mà đã học mà chưa lãnh hội quyết không bỏ; không hỏi thì thôi, đã hỏi mà
chưa biết, quyết không bỏ; không suy nghĩ thì thôi, đã suy nghĩ mà không có kết
quả quyết không bỏ; không phân biện thì thôi, mà đã phân biện mà không sáng tỏ,
quyết không bỏ; đã không thực hành thì thôi, thực hành mà không thiết thực,
quyết không bỏ. Người khác học một lần, ta học ngàn lần. Nếu biết thực hành
theo phương pháp đó, tuy ngu muội cũng biến thành thông minh, dẫu yếu hèn cũng biến
thành mạnh mẽ” (Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành
chi. Hữu phất học, học chi phất năng, phất thố dã; hữu phất vấn, vấn chi phất
trim phất thố dã; hữu phất tư, tư chi phất đắc, phất thố dã; hữu phất biên,
biện chi phất minh, phất thố dã; hữu phất hành,hành chi phất đốc, phất thố dã.
Nhân nhất năng chi, kỷ bách chi; nhân thập năng chi, kỷ thiên chi. Quả năng thử
đạo hĩ, tuy ngu bất minh, tuy nhu bất cường”/ Trung Dung).
Theo Nho giáo, kẻ học phải thực hiện năm
điều, đó là: Học, vấn, tư, biện, và hành.
Học: Lấy sự tìm kiếm làm cho giỏi mọi việc
gọi là Học.
Vấn: Lấy sự học hỏi giải thích cho rõ ngờ
vực gọi là Vấn.
Tư: Lấy sự suy ngẫm làm cho thông suốt mọi
lý thuyết gọi là Tư.
Biện: Lấy sự thảo luận suy xét, làm cho
tinh tường lẽ phải trái, để rồi đưa ra bằng chứng cho rõ, từ đó chấp nhận hay
bác bỏ, gọi là Biện. Nên người ta thường dùng chung với các từ ngữ khác thành
các danh từ kép như biện chứng, biện luận, biện minh, biện bạch, biện bác, biện
hộ...
Hành: Lấy sự tìm kiếm hiểu biết, thực hiện
sự kiện gọi là Hành động.
Học và hành phải đi đôi thì sự hiểu biết
mới được cụ thể. Tỉ như chúng ta biết thờ Trời là một việc rất hữu ích: Nhưng
biết thờ Trời chưa đủ, thành thử chúng ta phải thực hiện lễ bái Đức Chí Tôn
hằng ngày, để tập cho mình có lòng thành kính, đạo tâm phát triển. Lòng thành
kính biểu hiện từ Chân tâm, nó sẽ giúp chúng ta trừ khử được vọng tâm và cảm
thông với Thiên lý (giới tu hành gọi là Công phu). Thờ Trời, tế Trời là một
phương pháp làm sáng cái đức sáng của chính mình. Nên trong cửa đạo có câu:
“Lễ bái thường hành tâm đạo khởi” (Bài thài
Thất nương Diêu Trì cung).
Thầy Tuân Tử nói:
“Bất văn bất nhược văn chi, văn chi bất
nhược kiến chi, kiến chi bất nhược tri chi, tri chi bất nhược hành chi. Học chi
ư hành chi nhi chỉ hỷ. Hành chi minh giả, minh chi vi thánh nhân. Thánh nhân
giả giả bản nhân nghĩa, đương thị phi, tề ngôn hạnh, bất thất hào ly, Vô tha
đạo yên, dĩ hồ hành chi hỷ”/ Tuân tử - Nho hiệu VIII).
Nghĩa là “Chẳng nghe chẳng bằng nghe, nghe
chẳng bằng trông thấy, trông thấy không bằng biết rõ, biết rõ không bằng làm
được. Sáng suốt mọi việc thì làm Thánh nhân. Thánh nhân là người lấy nhân nghĩa
làm gốc, định rõ phải trái, lời nói với việc làm như nhau, không sai lầm một
hào một ly nào. Học đến làm được mới thôi. Không có đạo nào khác nữa”. Như vậy
cái “đức sáng” của mình càng ngày càng sáng suốt thêm lên.
Sự học có nhiều lối: Học với sách vở, với
kinh nghiệm của người khác, với kinh nghiệm của chính mình, và học với trí suy
ngẫm. Ví dụ: Chúng ta chưa biết lửa có tính nóng. Nay vì có một duyên cớ gì,
chúng ta chạm lửa làm phỏng tay; Thế là chúng ta học bài học biết lửa có tính
nóng và tránh nó lần sau. Một học giả Tây phương có câu:
“Trên thế gian có ba hạng người, một loại
học hỏi bằng sách vở, lại học hỏi qua kinh nghiệm của người khác, một loại học
bằng chính những hành động dại dột của mình” (Cari Barney).
Đời là một trường học:
Rủi chúng ta bị phiền não vì một việc gì,
thì chúng ta chẳng khá trách người, chẳng khá trách vật, chẳng khá trách Trời;
mà trái lại, phải tự xét mình, tìm cho ra nguyên nhân nào làm cho chúng ta phải
phiền não. Phải chăng: Tại không biết, tại trễ nãi, tại tức giận? Khi đã thấy
nguyên nhân tạo ra phiền não rồi, chúng ta nên tìm phương giải quyết, để cho
cách xử sự lần sau được khá hơn.
Trí tuệ con người là một trường tiến hóa:
Lại nhìn đến vạn vật yên lặng, trang
nghiêm, rồi nghĩ đến thân phận người ta ở đời: Sống như vậy rồi chết ra sao?
Vậy chúng ta nên ghi nhận những vấn đề ấy, để rồi suy ngẫm khám phá sự liên lạc
của người với Trời, người với người và người với vật.
Một khi chúng ta khám phá những lẽ bí mật
của Tạo vật rồi, ắt chúng ta sẽ giải quyết được đời sống của chúng ta với một
cách xứng đáng. Theo lý, đương nhiên đời sống chẳng phải tìm kiếm những việc
nhỏ mọn trong vòng vật dục, mà phải vượt ra ngoài, hướng thượng để rồi sống với
đạo, sống với Thượng Đế và sống với chúng sanh.
Mục đích của người Trí là biết Đạo, thế nên
kẻ học phải chuyên tâm trì chí. Cách học phải mở cho rộng, hỏi cho kỹ, nghĩ cho
cùng, phân biệt cho rõ và hết sức làm theo; để thành toàn cái biết của mình.
Mỗi ngày phải xét mình và bền lòng tự xét tự tỉnh mãi cho đến một ngày kia,
chúng ta sẽ có tâm trọn lành (phát Huệ tâm).
Trí đã phát khởi, thấu hiểu chơn lý thiện
ác và biết giới hạn của dục tình rồi. Lúc bấy giờ, chúng ta ung dung thông cảm
với Thiên lý mà sống với một thái độ thuận hòa, bình tĩnh theo Đạo thiên nhiên.
TÍN:
Tín là tin. Thủ tín là điều quý trọng của
người, nhứt là kẻ tu hành. Lời nói của mình thốt ra phải trọng nó: Nói ra rồi
phải nhìn nhận, nếu nói không chắc một lần, về sau mặc dầu chúng ta nói thật,
người ta cũng không tin "Nhơn vô tín bất lập": Người không đặng tín
nhiệm thì chẳng làm nên việc gì được.
Đối với mình lại càng phải thủ tín hơn nữa.
Chúng tôi xin nhắc câu sách Đại Học nói rằng:
"Sở vị thành kỳ ý giả vô tự khi
dã".
Nghĩa là giữ ý mình cho thành thật, tức là
mình không tự khinh khi mình, tức là tự trọng.
Đại để nói rằng cốt yếu là thành thật ngay
từ trong tâm, nếu mà tự dối mình tức là mình không biết tự trọng lấy mình vậy.
Ví dụ: Chúng ta hứa với mình "Học cho
giỏi" thế mà rồi ít lâu lại quên mất, không làm được như lời hứa. Đó là
tại sao? Tại mình tự dối mình, mà kẻ tự dối mình tức là dối lương tâm; mà dối
lương tâm là dối Trời. Thử hỏi: Trời có nên dối chăng?
Những kẻ bội ước, bất trung, nói rồi chối,
hoặc điên đảo xảo ngôn, là kẻ xúc phạm đến thần minh, kẻ ấy thế nào cũng phải
chịu sự trừng phạt.
Mất lòng tín nhiệm của người lại mất lòng
tự tín của mình, kẻ ấy thành ra một nhân vật khả ố. Kẻ học đạo tự mình phải nói
thật và thủ tín, vì khoản thất tín nầy này rất khó dung chế.
Chữ “Tín” về tôn giáo còn gọi là Tín
ngưỡng. Đứng về phương diện tín ngưỡng tôn giáo, ngày nay nhân loại vẫn còn
trạng thái cực đoan, cứ cho những giáo lý, giáo luật và nghi lễ của mình tin là
chánh giáo, mà xem các tôn giáo khác là tả đạo bàng môn, cần phải loại trừ.
Thậm chí những phần tử cực đoan còn tạo nên nhiều cuộc ác chiến đẩm máu tàn sát
lẫn nhau, mà họ cả tin rằng hành động đó là phựng sự Thượng Đế. Chúng ta nên
hiểu rằng: Thượng Đế lập ra tôn giáo là vì con người, chứ không phải tạo ra con
người để vì tôn giáo.
Mục đích tôn giáo Thượng Đế lập ra, là cốt
để hướng dẫn con người biết sống với phẩm chất nhân văn, cọng yêu hòa ái, tôn
trọng mạng sống lẫn nhau, chứ không phải con người sinh ra với mục đích bảo vệ
tôn giáo của mình, mà tàn sát hủy diệt các tôn giáo khác, để cho mình độc tôn.
TIỂU KẾT:
Tam cang Ngũ thường là tiêu chuẩn để hướng
dẫn hành động con người để trở nên đạo hạnh, cũng như thước qui để làm hình
tròn, thước củ để làm hình vuông. Muốn làm hình tròn, hình vuông mà không dùng
thước qui thước củ, để làm rập thì không thể được, nên người ta hay gọi chung
là “quy củ”, cũng như muốn làm người đức hạnh mà chẳng dùng Tam cang Ngũ thường
để hướng dẫn thì biết theo đâu mà làm.
Để cụ thể Tam cang là ba giềng mối, cổ nhân
đã đề ra “Thập nghĩa” là phụ từ (lành), tử hiếu (thảo), huynh lượng (rộng rãi),
đệ để (thuận hòa), phu nghĩa (ân nghĩa), phụ thính (lắng nghe), trưởng huệ (thi
ân), ấu thuận (vâng lời), quân nhân (nhơn đức), thần trung (trung thành), cốt
rao giảng điều tin, để đạt được sự hòa thuận, chuộng sự từ nhượng, bỏ sự tranh
cướp (Lễ ký – Lễ vận XI)
Ngũ thường tuy có năm đức con người hằng
tuân thủ, nhưng Nhân đứng đầu của đạo làm người. Lễ là mực thước để làm đạo
Nhân, thực hiện trọn đạo Nhân, tức là thể hiện Thiên lý thành Nhơn Luân và cũng
là làm tròn bổn phận con người.
******************
---------------------
TAM CANG – NGŨ THƯỜNG:
Tam Cang: là quân thần cang, phụ tử cang và
phu thê cang.
Ngũ thường gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín.
TAM CANG:
Tam Cang: là quân thần cang, phụ tử cang và
phu thê cang.
1. Đạo quân thần: Theo đà tiến hóa của thời
đại mà hiện giờ chữ quân thần phải đổi lại là chữ quốc dân. Muốn cho quốc dân
được thanh tĩnh, chúng ta phải làm cho mặt kinh tế được hòa nhã, chánh trị được
khéo léo và mỗi công dân đều biết tự trọng di sản văn hóa – tinh thần.
Với cái thiên chức làm dân biết giúp cho
nước nhà yên lành và giữ vững nền hòa bình mới xứng đáng là một tôi con của Tổ
quốc và mới giữ mồ mả của ông cha. Song đứng ra cứu quốc không xem đó là điều
nguy kịch đời mình, vẫn hy sinh cả sự nghiệp vật chất lẫn tinh thần để đổi sự
thành công mới trọn nghĩa trung.
2. Đạo cha con: Làm cha mẹ rất là khổ sở
với con cái, từ sự nuôi nấng và dạy dỗ cho nên người gặp phải gia đình nghèo
khó cha mẹ phải làm sao cho ra tiền đặng lo sắm y-phục cho con, đưa con đến
trường để học tập, được trở nên người hữu dụng.
Nếu kẻ làm con biết xét đến điều đó, thì
phải hết lòng hiếu thảo cha mẹ, cung phụng cha mẹ từ miếng ăn, thức mặc hoặc
thuốc thang khi đau ốm, để đáp trọng ân và biểu-dương một tinh-thần hiếu hạnh
cao cả trong xã hội.
Ông Mạnh Tử nói: “Nội tắc phụ tử, ngoại tắc
quân thần, nhân chi đại luân dã”, nghĩa là bên trong thì đạo cha con, bên ngoài
thì đạo vua tôi, đó là cái giềng mối lớn của đạo người vậy. Như thế chữ hiếu
đâu phải là việc phụ thuộc mà kẻ làm con chẳng hết lòng báo bổ được ư?
3. Đạo chồng vợ: Đã vui vẻ kết cấu với nhau
lập thành một gia đình, thì kẻ làm chồng vợ phải cần tiêu biểu cách đối xử tốt
đẹp cho gia đình người khác bắt chước, không nên vì lý do không chánh đáng mà
sanh ra tình phai ý lợt. Nhiều khi vợ chồng bỏ nhau quá dễ dàng chỉ vì thú dục
mạnh hơn tình nghĩa. Nếu loài người sống không biết tình nghĩa thì cái sống ấy
không khác loài vật, chẳng chút nề-nếp gia-phong, tôn-ti trật tự. Như thế có
thú vị gì đâu?
Ngũ Thường: Nói đến ngũ thường, không một
đồng đạo nào lạ tai cả, vì điều nầy hẳn mỗi người đã được cha mẹ hoặc ông già
bà cả thường hay nói đến và dạy cho con cháu trong nhà học theo. Nhưng cách chỉ
bảo ấy chỉ lấy đại khái, nên lắm người hiểu còn mờ mịt. Hôm nay cần hiểu rành
hơn để cư xử đúng đạo làm người.
NGŨ THƯỜNG:
Ngũ thường gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín.
Nhân: Nhân là keo là hồ để hàn gắn lại bao
vết thương lòng của nhơn loại. Người có lòng nhân hay tha thứ kẻ lầm lỗi, giúp
đỡ người khác từ miếng vải, bát cơm và không chủ-trương sát sanh hại mạng. Hơn
nữa, đối với cha mẹ họ còn đầy lòng hiếu hạnh.
Sách có câu: “Trắc ẩn chi tâm, nhân chi
đoan giả”, nghĩa là lòng thương yêu mọi người là mối đầu của lòng nhân. Thế
nên, lòng nhân là nguồn sống của mọi loài, và người có được lòng nhân tức là ân
nhân của tất cả nhân loại:
– Lẽ thứ nhất của lòng nhân là thường ra
tay giúp đỡ kẻ thiếu hụt và thương yêu người nguy nan mà tế trợ mọi công ăn
việc làm có lợi ích.
– Lẽ thứ hai của lòng nhân là họ đối với
người lở phạm tội lỗi đến họ, thì họ luôn luôn tha thứ, nếu người biết ăn năn.
Lại họ còn dạy dỗ những điều chơn chánh và đạo lý khiến người ấy trở nên người
nhân từ như họ.
– Lẽ thứ ba của lòng nhân là không khi nào
vì sự lợi riêng cho mình mà làm cho kẻ khác bị đau khổ, hay vì món lợi chung mà
giết hại người khác một cách vô cớ.
– Lẽ thứ tư của lòng nhân là lúc nào họ
cũng giữ sự ăn uống có chừng mực, không hề đụng đâu ăn đó, hay ăn quá độ, để vô
tình tự sát đời họ quá vô nghĩa và họ không khi nào vì cuộc vui thích không có
ý nhị mà sát hại sanh vật cho được thỏa mãn khẩu dục.
– Lẽ thứ năm của lòng nhân là họ rất hiếu
hạnh với cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ từ miếng ăn, thức uống, chỗ ở, cho đến lời
nói hoặc việc làm gì cũng đều làm vui lòng cha mẹ và giữ danh giá của cha mẹ
không để người khác rẽ khinh hay để cha mẹ có một điều gì khổ sở.
Nghĩa: Mỗi người đều hiểu việc nghĩa là
điều tốt đẹp nhứt, dù ai cũng phải có nó trong lòng mỗi ngày và cần thực hành
đúng cách.
a) – Đối với trong nhà từ trên ông bà cha
mẹ đến anh em lúc nào cũng phải đầy lòng thương mến và giúp đỡ. Có thể chia sớt
cho nhau điều vui, gánh đỡ cho nhau việc khổ, nghĩa là bất tất việc gì luôn
luôn nghĩ đến lẽ phải đối với thân quyến. Có được thế mới làm cho thân quyến
bền chặt.
b) – Ngoài việc đối xử gia đình, chúng ta
còn đem việc nghĩa đối với xã hội, từ vua quan đến dân dã bạn bè, lúc nào cũng
phải đem hết tâm tư trí lực của mình và việc làm lợi ích cho nhau, nghĩa là
phải biết cùng sống còn, cùng vinh hạnh trên lẽ phải và phải biết cứu nhau
trong chỗ nguy biến. Nói tóm lại là từ trên đến dưới có thể giúp nhau nhiều
việc công nghĩa.
c) – Là trong khoảng sống, chúng ta không
tránh khỏi gặp phải lúc bất trắc của mình hay kẻ khác, nếu gặp việc bất trắc
của kẻ khác mình hãy tận tâm ứng phó để cứu giúp họ không hề sụt sè lánh né.
d) – Đến như gặp phải trường hợp nghèo khó
cho đến cơm không đủ no, áo không đủ mặc nhưng với lòng của kẻ biết việc nghĩa
không hề chủ trương những việc bất lương và luôn luôn giữ tiết tháo trong việc
chơn chánh, dầu cạp đất ăn rau, không hề thâu đoạt của người vô cớ. Còn được
giàu sang dư giã thì đem giúp đỡ kẻ thiếu hụt, không có tư lợi ích kỷ hay vị
danh.
Lễ: Mỗi người đều phải biết lễ, vì nó tiêu
biểu lòng kính mến. Nếu hiểu biết được ý nghĩa của việc lễ thì:
a) – Đối với gia đình từ ông bà cha mẹ anh
chị trong nhà luôn luôn giữ sự chào hỏi lễ phép và nói năng bặt thiệp. Sự chào
hỏi ấy với lòng thành thật cung kính chớ không có hoa dạng bề ngoài, khi nghe
tiếng gọi của cha mẹ, anh chị hoặc người lớn tuổi thì liền dạ, gặp người quen
lớn hay xa lạ cũng vậy phải hai tay nắm lại để ngay ngực cúi đầu chào hỏi một
cách nghiêm cẩn. Và có điều cần nhớ là dù gặp khách quen hay lạ mình cũng vẫn
đối đãi tử tế như nhau, nếu vì người quen mà ta chỉ chào hỏi qua loa khiến
người ấy chẳng vui lòng, chẳng thế còn làm cho kẻ trong nhà bắt chước cử chỉ ấy
không tốt.
(Cách lễ Phật chấp tay xá gọi là “hiệp
chưởng”. Đối với người thủ lễ nắm tay lại gọi là “củng thủ”).
b) – Ngoài việc chào hỏi trong gia đình,
chúng ta còn đối với bên ngoài như hàng vua quan, các bậc tôn trưởng luôn luôn
giữ lấy lời lễ độ chào hỏi. Chẳng những được nhân cách lịch sự mà còn gây được
cảm tình với người nữa.
c) – Khi đến các ngôi chùa, miếu, lăng, tẩm
luôn luôn giữ vẻ cung kính. (Trước khi vào bái đường phải lột giày, guốc, khăn,
nón để ngoài rồi sẽ từ từ tiến vào một cách nghiêm chỉnh, không được chấp tay
sau lưng. Khi lễ bái, ngoài dung nghi chỉnh tề, còn giữ trọn lòng cung kính và
tin tưởng Đức Phật).
d) – Nam cũng như nữ mỗi khi hầu chuyện với
nhau đều phải giữ lời lẽ lễ độ, cử chỉ đoan trang không nên nói diễu cợt tục
tằn và không để cho lòng nghĩ quấy.
e) – Việc chồng vợ mặc dầu đã ăn ở lâu
ngày, chẳng vì thế mà nói lờn lả, trái lại phải đem lòng cung kính nhau luôn:
khi nói năng phải thưa dạ, lúc đi, đứng, nằm, ngồi phải biết nhường nhịn cho lễ
phép, không được xem thường nhau mà sanh lòng lờn lã.
Trí: Con người hơn loài vật nhờ có cái trí,
như:
a) – Lấy trí xét nghĩ chất rượu thường làm
cho con người tâm trí cuồng táo không còn phong độ tốt lành, không còn biết suy
xét việc phải trái, làm nhiều tội lỗi: chửi vợ mắng con, gây ó xóm riềng, tựu
tập bạn bè bày tiệc độ, sanh việc cướp bóc, gây lắm sầu khổ, nên không hề uống.
Đức Phật cho rượu là thứ thuốc độc. Ngài
thường răn các môn nhơn của Ngài phải cử rượu. Song muốn cử rượu thì lúc nào
cũng nhận nó là tai hại, không nên nếm thử. Chỉ trừ khi nào có bịnh mà lương y
bảo phải dùng với thuốc mới được uống, song mạnh rồi thôi.
Xưa có một người qui y Tam bảo, một hôm
khát nước y gặp bình rượu liền uống cho đỡ khát, bỗng con gà chạy đến y bắt làm
thịt uống với rượu, người con gái mất gà đến kiếm, y lại bắt hãm hiếp, bà già
cô gái ấy kiện y ra tòa thì y chối rằng không có bắt gà và hiếp dâm. Thế thì từ
cái tội rượu dẫn đến tội ăn trộm gà, tà dâm vọng ngữ một cách dễ dàng chẳng là
đáng sợ lắm sao?
b) – Lúc nào cũng lấy trí xét thấy việc cờ
bạc là thứ phá hoại tài sản, nó thường làm cho người tiêu tan sự nghiệp, hết
bạc tiền; như thua thì bán vòng vàng, quần áo, đất cát, cửa nhà; đến khi không
còn món gì bán được nữa thì sinh ra trộm cướp. Trai sa vào cờ bạc thì sanh ra
đàng điếm; gái sa vào cờ bạc thì sanh ra đĩ thỏa, họ không còn nghĩ đến danh
giá của họ hay phong hóa nước nhà là gì. Xét cờ bạc có tai hại như thế; người
có trí luôn luôn xa lánh không nên mó vào.
c) – Lấy trí xét nghĩ sắc đẹp là món hại
như nọc ong, nọc rắn, nếu người chạm đến là nguy hại, nên ngăn ngừa không hề
say đắm:
– Vua lụy vì sắc thành lũy tan hoang.
– Quan lụy vì sắc bại trận mất chức.
– Dân lụy vì sắc bị tù đày khổ sở.
Ngoài ra sắc đẹp còn làm cho người mờ ám
trí tuệ, vì nhốt tư lự trong chẳng rời và cũng xô người vào cảnh nghèo nàn tù
tội không kể xiết.
Đã thấy nạn đắm mê sắc lịch tai hại to lớn,
người có trí chẳng lúc nào mà không tìm cách ngăn ngừa nó.
d) – Việc hút xách thường làm mòn mỏi xác
thân, tiêu hao tiền của quá vô ích, còn làm cho người coi rẻ tuổi tên, lấy trí
xét rõ chỗ hại của nó tự gắng gổ giữ và chừa bỏ nó, nếu mình lỡ ghiền.
e) – Mỗi khi thấy những việc phi nghĩa bất
lương, chẳng luận có tai hại cho mình hay kẻ khác, dầu có đem lại món lợi to
bao lớn ta vẫn cự tuyệt cho đến hũy kiếp; và luôn luôn tìm cách tránh cho kẻ
khác không thể lâm vào. Tại sao? Vì việc làm ấy chỉ có lợi vật chất ngắn ngủi
mà gây khổ báo lâu dài cho đời mình vậy.
Tín: “Nhơn vô tín bất lập” nào ai chẳng
biết? Chữ tín giúp cho người quên mỏi mệt để theo sát nguyện vọng. Để hiểu nó
như thế nào, chúng ta:
a) – Lúc nào cũng tự tin nơi lòng dè dặt và
cố gắng của mình thì sớm muộn gì cũng đạt mục đích, nghĩa là đến chỗ mình muốn,
nên gặp những khó khăn không hề nản lòng bỏ dở.
b) – Tự tin rằng: nếu chúng ta không đem
lời dối gạt người, cố nhiên người không dối gạt lại và chúng ta đối với ai cũng
lựa câu ứng đáp chắc thật, việc làm chơn-chánh thì họ sẽ tin vào việc làm và
lời nói của ta, khiến cho việc làm ấy mau được thành-công viên-mãn.
c) – Chúng ta tự tin rằng: việc nào của
mình làm thì sớm muộn gì nó cũng trả lại cho mình không sai chạy một mảy, như
câu: “tự tác huờn tự thọ” Nói theo luật nhân quả: hễ gieo thứ giống nào thì lên
trái nấy, và mình càng gieo thì nó càng lên, do đó chúng ta luôn luôn ngăn ngừa
chừa bỏ những điều mà chúng ta đoán biết rằng ngày kia nó sẽ đem lại một kết
quả không hay cho chúng ta.
d) – Khi thấy người khác có những việc làm chơn
chánh, đối xử thành thật, nhứt là có đức hạnh nghiêm cẩn, thì chúng ta nên giao
phó cho họ việc làm hệ trọng. Vì con người ấy sẽ gây sự kính mến và được tin
cậy của nhiều người. Trái lại, khi thấy rõ người có tâm đức tốt lành ngay thật
mà mình không mạnh dạn trao cho họ những công việc xứng đáng, thì không thế nào
mình làm việc lớn trong xã hội được.
e) – Khi thấy người khác có lòng tin cậy
chúng ta, thì chúng ta chỉ nên làm cho họ tin cậy thêm, bằng cách nêu rõ việc
làm chơn chánh, lời lẽ thành thật. Ngược lại chúng ta không nên vô tình hay cố
ý để lòng tin cậy ấy bị mất.
g) – Mỗi khi lòng còn nghi ngờ điều chi,
chúng ta nên đến hỏi người của ta nghi hay người hiểu biết hơn để nhờ họ giải
bày rõ rệt việc ấy, nếu là việc hợp lý thì mình cứ tin ngay, không còn nghi
nữa. Được thế thì bắt đầu từ đó việc làm của chúng ta được tiến xa hơn. Nhược
bằng nghe người giải bày tường tận mà lòng mình còn nghi thì sự hiểu biết cũng
như việc làm phải ngưng trệ và thất bại.
---------------------
*******************
TAM CANG – NGŨ THƯỜNG:
Tam Cang: là quân thần cang, phụ tử cang và
phu thê cang.
Ngũ thường gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín.
TAM CANG:
Tam Cang: là quân thần cang, phụ tử cang và
phu thê cang.
1. Đạo quân thần: Theo đà tiến hóa của thời
đại mà hiện giờ chữ quân thần phải đổi lại là chữ quốc dân. Muốn cho quốc dân
được thanh tĩnh, chúng ta phải làm cho mặt kinh tế được hòa nhã, chánh trị được
khéo léo và mỗi công dân đều biết tự trọng di sản văn hóa – tinh thần.
Với cái thiên chức làm dân biết giúp cho
nước nhà yên lành và giữ vững nền hòa bình mới xứng đáng là một tôi con của Tổ
quốc và mới giữ mồ mả của ông cha. Song đứng ra cứu quốc không xem đó là điều
nguy kịch đời mình, vẫn hy sinh cả sự nghiệp vật chất lẫn tinh thần để đổi sự
thành công mới trọn nghĩa trung.
2. Đạo cha con: Làm cha mẹ rất là khổ sở
với con cái, từ sự nuôi nấng và dạy dỗ cho nên người gặp phải gia đình nghèo
khó cha mẹ phải làm sao cho ra tiền đặng lo sắm y-phục cho con, đưa con đến
trường để học tập, được trở nên người hữu dụng.
Nếu kẻ làm con biết xét đến điều đó, thì
phải hết lòng hiếu thảo cha mẹ, cung phụng cha mẹ từ miếng ăn, thức mặc hoặc
thuốc thang khi đau ốm, để đáp trọng ân và biểu-dương một tinh-thần hiếu hạnh
cao cả trong xã hội.
Ông Mạnh Tử nói: “Nội tắc phụ tử, ngoại tắc
quân thần, nhân chi đại luân dã”, nghĩa là bên trong thì đạo cha con, bên ngoài
thì đạo vua tôi, đó là cái giềng mối lớn của đạo người vậy. Như thế chữ hiếu
đâu phải là việc phụ thuộc mà kẻ làm con chẳng hết lòng báo bổ được ư?
3. Đạo chồng vợ: Đã vui vẻ kết cấu với nhau
lập thành một gia đình, thì kẻ làm chồng vợ phải cần tiêu biểu cách đối xử tốt
đẹp cho gia đình người khác bắt chước, không nên vì lý do không chánh đáng mà
sanh ra tình phai ý lợt. Nhiều khi vợ chồng bỏ nhau quá dễ dàng chỉ vì thú dục
mạnh hơn tình nghĩa. Nếu loài người sống không biết tình nghĩa thì cái sống ấy
không khác loài vật, chẳng chút nề-nếp gia-phong, tôn-ti trật tự. Như thế có
thú vị gì đâu?
Ngũ Thường: Nói đến ngũ thường, không một
đồng đạo nào lạ tai cả, vì điều nầy hẳn mỗi người đã được cha mẹ hoặc ông già
bà cả thường hay nói đến và dạy cho con cháu trong nhà học theo. Nhưng cách chỉ
bảo ấy chỉ lấy đại khái, nên lắm người hiểu còn mờ mịt. Hôm nay cần hiểu rành
hơn để cư xử đúng đạo làm người.
NGŨ THƯỜNG:
Ngũ thường gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín.
Nhân: Nhân là keo là hồ để hàn gắn lại bao
vết thương lòng của nhơn loại. Người có lòng nhân hay tha thứ kẻ lầm lỗi, giúp
đỡ người khác từ miếng vải, bát cơm và không chủ-trương sát sanh hại mạng. Hơn
nữa, đối với cha mẹ họ còn đầy lòng hiếu hạnh.
Sách có câu: “Trắc ẩn chi tâm, nhân chi
đoan giả”, nghĩa là lòng thương yêu mọi người là mối đầu của lòng nhân. Thế
nên, lòng nhân là nguồn sống của mọi loài, và người có được lòng nhân tức là ân
nhân của tất cả nhân loại:
– Lẽ thứ nhất của lòng nhân là thường ra
tay giúp đỡ kẻ thiếu hụt và thương yêu người nguy nan mà tế trợ mọi công ăn
việc làm có lợi ích.
– Lẽ thứ hai của lòng nhân là họ đối với
người lở phạm tội lỗi đến họ, thì họ luôn luôn tha thứ, nếu người biết ăn năn.
Lại họ còn dạy dỗ những điều chơn chánh và đạo lý khiến người ấy trở nên người
nhân từ như họ.
– Lẽ thứ ba của lòng nhân là không khi nào
vì sự lợi riêng cho mình mà làm cho kẻ khác bị đau khổ, hay vì món lợi chung mà
giết hại người khác một cách vô cớ.
– Lẽ thứ tư của lòng nhân là lúc nào họ
cũng giữ sự ăn uống có chừng mực, không hề đụng đâu ăn đó, hay ăn quá độ, để vô
tình tự sát đời họ quá vô nghĩa và họ không khi nào vì cuộc vui thích không có
ý nhị mà sát hại sanh vật cho được thỏa mãn khẩu dục.
– Lẽ thứ năm của lòng nhân là họ rất hiếu
hạnh với cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ từ miếng ăn, thức uống, chỗ ở, cho đến lời
nói hoặc việc làm gì cũng đều làm vui lòng cha mẹ và giữ danh giá của cha mẹ
không để người khác rẽ khinh hay để cha mẹ có một điều gì khổ sở.
Nghĩa: Mỗi người đều hiểu việc nghĩa là
điều tốt đẹp nhứt, dù ai cũng phải có nó trong lòng mỗi ngày và cần thực hành
đúng cách.
a) – Đối với trong nhà từ trên ông bà cha
mẹ đến anh em lúc nào cũng phải đầy lòng thương mến và giúp đỡ. Có thể chia sớt
cho nhau điều vui, gánh đỡ cho nhau việc khổ, nghĩa là bất tất việc gì luôn
luôn nghĩ đến lẽ phải đối với thân quyến. Có được thế mới làm cho thân quyến
bền chặt.
b) – Ngoài việc đối xử gia đình, chúng ta
còn đem việc nghĩa đối với xã hội, từ vua quan đến dân dã bạn bè, lúc nào cũng
phải đem hết tâm tư trí lực của mình và việc làm lợi ích cho nhau, nghĩa là
phải biết cùng sống còn, cùng vinh hạnh trên lẽ phải và phải biết cứu nhau
trong chỗ nguy biến. Nói tóm lại là từ trên đến dưới có thể giúp nhau nhiều
việc công nghĩa.
c) – Là trong khoảng sống, chúng ta không
tránh khỏi gặp phải lúc bất trắc của mình hay kẻ khác, nếu gặp việc bất trắc
của kẻ khác mình hãy tận tâm ứng phó để cứu giúp họ không hề sụt sè lánh né.
d) – Đến như gặp phải trường hợp nghèo khó
cho đến cơm không đủ no, áo không đủ mặc nhưng với lòng của kẻ biết việc nghĩa
không hề chủ trương những việc bất lương và luôn luôn giữ tiết tháo trong việc
chơn chánh, dầu cạp đất ăn rau, không hề thâu đoạt của người vô cớ. Còn được
giàu sang dư giã thì đem giúp đỡ kẻ thiếu hụt, không có tư lợi ích kỷ hay vị
danh.
Lễ: Mỗi người đều phải biết lễ, vì nó tiêu
biểu lòng kính mến. Nếu hiểu biết được ý nghĩa của việc lễ thì:
a) – Đối với gia đình từ ông bà cha mẹ anh
chị trong nhà luôn luôn giữ sự chào hỏi lễ phép và nói năng bặt thiệp. Sự chào
hỏi ấy với lòng thành thật cung kính chớ không có hoa dạng bề ngoài, khi nghe
tiếng gọi của cha mẹ, anh chị hoặc người lớn tuổi thì liền dạ, gặp người quen
lớn hay xa lạ cũng vậy phải hai tay nắm lại để ngay ngực cúi đầu chào hỏi một
cách nghiêm cẩn. Và có điều cần nhớ là dù gặp khách quen hay lạ mình cũng vẫn
đối đãi tử tế như nhau, nếu vì người quen mà ta chỉ chào hỏi qua loa khiến
người ấy chẳng vui lòng, chẳng thế còn làm cho kẻ trong nhà bắt chước cử chỉ ấy
không tốt.
(Cách lễ Phật chấp tay xá gọi là “hiệp
chưởng”. Đối với người thủ lễ nắm tay lại gọi là “củng thủ”).
b) – Ngoài việc chào hỏi trong gia đình,
chúng ta còn đối với bên ngoài như hàng vua quan, các bậc tôn trưởng luôn luôn
giữ lấy lời lễ độ chào hỏi. Chẳng những được nhân cách lịch sự mà còn gây được
cảm tình với người nữa.
c) – Khi đến các ngôi chùa, miếu, lăng, tẩm
luôn luôn giữ vẻ cung kính. (Trước khi vào bái đường phải lột giày, guốc, khăn,
nón để ngoài rồi sẽ từ từ tiến vào một cách nghiêm chỉnh, không được chấp tay
sau lưng. Khi lễ bái, ngoài dung nghi chỉnh tề, còn giữ trọn lòng cung kính và
tin tưởng Đức Phật).
d) – Nam cũng như nữ mỗi khi hầu chuyện với
nhau đều phải giữ lời lẽ lễ độ, cử chỉ đoan trang không nên nói diễu cợt tục
tằn và không để cho lòng nghĩ quấy.
e) – Việc chồng vợ mặc dầu đã ăn ở lâu
ngày, chẳng vì thế mà nói lờn lả, trái lại phải đem lòng cung kính nhau luôn:
khi nói năng phải thưa dạ, lúc đi, đứng, nằm, ngồi phải biết nhường nhịn cho lễ
phép, không được xem thường nhau mà sanh lòng lờn lã.
Trí: Con người hơn loài vật nhờ có cái trí,
như:
a) – Lấy trí xét nghĩ chất rượu thường làm
cho con người tâm trí cuồng táo không còn phong độ tốt lành, không còn biết suy
xét việc phải trái, làm nhiều tội lỗi: chửi vợ mắng con, gây ó xóm riềng, tựu
tập bạn bè bày tiệc độ, sanh việc cướp bóc, gây lắm sầu khổ, nên không hề uống.
Đức Phật cho rượu là thứ thuốc độc. Ngài
thường răn các môn nhơn của Ngài phải cử rượu. Song muốn cử rượu thì lúc nào
cũng nhận nó là tai hại, không nên nếm thử. Chỉ trừ khi nào có bịnh mà lương y
bảo phải dùng với thuốc mới được uống, song mạnh rồi thôi.
Xưa có một người qui y Tam bảo, một hôm
khát nước y gặp bình rượu liền uống cho đỡ khát, bỗng con gà chạy đến y bắt làm
thịt uống với rượu, người con gái mất gà đến kiếm, y lại bắt hãm hiếp, bà già
cô gái ấy kiện y ra tòa thì y chối rằng không có bắt gà và hiếp dâm. Thế thì từ
cái tội rượu dẫn đến tội ăn trộm gà, tà dâm vọng ngữ một cách dễ dàng chẳng là
đáng sợ lắm sao?
b) – Lúc nào cũng lấy trí xét thấy việc cờ
bạc là thứ phá hoại tài sản, nó thường làm cho người tiêu tan sự nghiệp, hết
bạc tiền; như thua thì bán vòng vàng, quần áo, đất cát, cửa nhà; đến khi không
còn món gì bán được nữa thì sinh ra trộm cướp. Trai sa vào cờ bạc thì sanh ra
đàng điếm; gái sa vào cờ bạc thì sanh ra đĩ thỏa, họ không còn nghĩ đến danh
giá của họ hay phong hóa nước nhà là gì. Xét cờ bạc có tai hại như thế; người
có trí luôn luôn xa lánh không nên mó vào.
c) – Lấy trí xét nghĩ sắc đẹp là món hại
như nọc ong, nọc rắn, nếu người chạm đến là nguy hại, nên ngăn ngừa không hề
say đắm:
– Vua lụy vì sắc thành lũy tan hoang.
– Quan lụy vì sắc bại trận mất chức.
– Dân lụy vì sắc bị tù đày khổ sở.
Ngoài ra sắc đẹp còn làm cho người mờ ám
trí tuệ, vì nhốt tư lự trong chẳng rời và cũng xô người vào cảnh nghèo nàn tù
tội không kể xiết.
Đã thấy nạn đắm mê sắc lịch tai hại to lớn,
người có trí chẳng lúc nào mà không tìm cách ngăn ngừa nó.
d) – Việc hút xách thường làm mòn mỏi xác
thân, tiêu hao tiền của quá vô ích, còn làm cho người coi rẻ tuổi tên, lấy trí xét
rõ chỗ hại của nó tự gắng gổ giữ và chừa bỏ nó, nếu mình lỡ ghiền.
e) – Mỗi khi thấy những việc phi nghĩa bất
lương, chẳng luận có tai hại cho mình hay kẻ khác, dầu có đem lại món lợi to
bao lớn ta vẫn cự tuyệt cho đến hũy kiếp; và luôn luôn tìm cách tránh cho kẻ
khác không thể lâm vào. Tại sao? Vì việc làm ấy chỉ có lợi vật chất ngắn ngủi
mà gây khổ báo lâu dài cho đời mình vậy.
Tín: “Nhơn vô tín bất lập” nào ai chẳng
biết? Chữ tín giúp cho người quên mỏi mệt để theo sát nguyện vọng. Để hiểu nó
như thế nào, chúng ta:
a) – Lúc nào cũng tự tin nơi lòng dè dặt và
cố gắng của mình thì sớm muộn gì cũng đạt mục đích, nghĩa là đến chỗ mình muốn,
nên gặp những khó khăn không hề nản lòng bỏ dở.
b) – Tự tin rằng: nếu chúng ta không đem
lời dối gạt người, cố nhiên người không dối gạt lại và chúng ta đối với ai cũng
lựa câu ứng đáp chắc thật, việc làm chơn-chánh thì họ sẽ tin vào việc làm và
lời nói của ta, khiến cho việc làm ấy mau được thành-công viên-mãn.
c) – Chúng ta tự tin rằng: việc nào của
mình làm thì sớm muộn gì nó cũng trả lại cho mình không sai chạy một mảy, như
câu: “tự tác huờn tự thọ” Nói theo luật nhân quả: hễ gieo thứ giống nào thì lên
trái nấy, và mình càng gieo thì nó càng lên, do đó chúng ta luôn luôn ngăn ngừa
chừa bỏ những điều mà chúng ta đoán biết rằng ngày kia nó sẽ đem lại một kết
quả không hay cho chúng ta.
d) – Khi thấy người khác có những việc làm
chơn chánh, đối xử thành thật, nhứt là có đức hạnh nghiêm cẩn, thì chúng ta nên
giao phó cho họ việc làm hệ trọng. Vì con người ấy sẽ gây sự kính mến và được
tin cậy của nhiều người. Trái lại, khi thấy rõ người có tâm đức tốt lành ngay
thật mà mình không mạnh dạn trao cho họ những công việc xứng đáng, thì không
thế nào mình làm việc lớn trong xã hội được.
e) – Khi thấy người khác có lòng tin cậy chúng
ta, thì chúng ta chỉ nên làm cho họ tin cậy thêm, bằng cách nêu rõ việc làm
chơn chánh, lời lẽ thành thật. Ngược lại chúng ta không nên vô tình hay cố ý để
lòng tin cậy ấy bị mất.
g) – Mỗi khi lòng còn nghi ngờ điều chi,
chúng ta nên đến hỏi người của ta nghi hay người hiểu biết hơn để nhờ họ giải
bày rõ rệt việc ấy, nếu là việc hợp lý thì mình cứ tin ngay, không còn nghi
nữa. Được thế thì bắt đầu từ đó việc làm của chúng ta được tiến xa hơn. Nhược
bằng nghe người giải bày tường tận mà lòng mình còn nghi thì sự hiểu biết cũng
như việc làm phải ngưng trệ và thất bại.
------------------------